Thứ Ba, 8 tháng 9, 2009

Version 1: Chương I - Mối quan hệ giữa Tự do Chính trị và Tự do Kinh tế

Người ta thường nghĩ chính trị và kinh tế là hai lĩnh vực riêng biệt và hầu như không quan hệ với nhau; tự do cá nhân là vấn đề chính trị và phúc lợi vật chất là vấn đề kinh tế; và bất kỳ thể chế chính trị nào cũng có thể kết hợp với bất kỳ thể chế kinh tế nào khác. Biểu hiện đương đại chính của tư tưởng nầy là sự ủng hộ "chủ nghĩa xã hội dân chủ" của những người kết án một cách thiếu cân nhắc hạn chế tự do cá nhân do chủ nghĩa xã hội toàn trị áp đặt ở Nga, và những người bị thuyết phục là một quốc gia có thể áp dụng một số đặc trưng chủ yếu của thể chế kinh tế Nga mà vẫn bảo đảm tự do cá nhân thông qua các thể chế chính trị. Luận đề của chương nầy cho thấy quan điểm đó chỉ là một ảo tưởng, có một mối quan hệ chặt chẽ giữa kinh tế và chính trị, và chỉ có thể có một số kết hợp nhất định giữa thể chế chính trị và thể chế kinh tế, và đặc biệt, theo nghĩa bảo đảm tự do cá nhân, một xã hội xã hội chủ nghĩa không thể đồng thời là một xã hội dân chủ.


Thể chế kinh tế đóng một vai trò kép trong việc thúc đẩy một xã hội tự do. Một mặt, tự do trong thể chế kinh tế tự nó là phần cấu thành của tự do được hiểu rộng rãi, vì thế tự do kinh tế là một cứu cánh tự thân. Mặt khác, tự do kinh tế cũng là một phương tiện không thể thiếu nhằm đạt được tự do chính trị.

Vai trò trước hết nầy của tự do kinh tế cần đặc biệt nhấn mạnh vì riêng giới trí thức có một sự thiên lệch về tầm quan trọng của khía cạnh nầy của tự do. Họ thường biểu thị khinh rẻ cái mà họ cho là khía cạnh vật chất của đời sống, và xem sự theo đuổi các giá trị được cho là cao cả hơn của riêng họ là ở một tầm quan trọng khác biệt và đáng được quan tâm đặc biệt. Tuy vậy, đối với đa số công dân trong một nước, cho dù đối với trí thức không hẳn thế, tầm quan trọng trực tiếp của tự do kinh tế ít nhất có thể so sánh về ý nghĩa với tầm quan trọng gián tiếp của tự do kinh tế như là phương tiện đối với tự do chính trị.

Công dân Anh sau Thế Chiến II không được phép đi nghỉ ở Mỹ do sự kiểm soát hối suất bị tước đoạt tự do thiết yếu không kém tí nào so với công dân Mỹ bị từ chối cơ hội đi nghỉ ở Nga vì quan điểm chính trị. Bên này có vẻ là sự giới hạn kinh tế đối với tự do và bên kia là sự giới hạn chính trị, tuy nhiên không có sự khác biệt quan trọng nào giữa hai bên.


Công dân Mỹ bị luật ép buộc dành khoảng 10 phần trăm thu nhập của mình để mua một loại hợp đồng hưu trí đặc biệt do chính phủ quản lý là đang bị tước đoạt một phần tương ứng tự do cá nhân của họ. Sự tước đoạt này được cảm nhận mạnh đến mức nào và sự gần gũi của nó đối với sự tước đoạt tự do tôn giáo, mà mọi người vốn xem là "dân sự" hay "chính trị" thay vì "kinh tế", đã được kịch hoá trong một hồi liên quan đến một nhóm nông dân của giáo phái Amis. Về nguyên tắc, nhóm này xem các chương trình bắt buộc xưa cũ là sự xâm phạm tự do cá nhân của họ và từ chối đóng thuế hay chấp nhận các lợi ích. Kết quả là, một số gia súc của họ được bán đấu giá để đáp ứng đòi hỏ về thuế an ninh xã hội. Đúng là số công dân xem sự bảo đảm bắt buộc xưa cũ là sự tước đoạt tự do có thể ít, nhưng tín đồ của tự do chưa bao giờ đếm số người.

Một công dân Mỹ chịu chi phối của luật lệ nhiều bang khác nhau không được tự do theo đuổi nghề nghiệp do mình tự chọn nếu không có được giấy phép cho điều đó cũng xem như đang bị tước đoạt một phần thiết yếu tự do của anh ta. Cũng như thế là người muốn trao đổi một số hàng hoá, chẳng hạn, với một người Thuỵ Sỹ để lấy chiếc đồng hồ nhưng bị ngăn cản không cho làm điều đó bởi hạn ngạch Không khác mấy một người ở bang California bị ném vào tù vì bán thuốc giảm đau Alka Seltzer với giá thấp hơn giá do những nhà sản xuất xác lập theo cái gọi là luật "tự do thương mại". Giống hệt là người nông dân không thể trồng số lượng lúa mì mà anh ta muốn. Và vân vân. Rất rõ, tự do kinh tế, cấu thành và tự thân, là một phần cực kỳ quan trọng của tự do tuyệt đối.

Được xem như là phương tiện của cứu cánh là tự do chính trị, thể chế kinh tế quan trọng vì tác động của nó lên sự tập trung và phân tán quyền lực. Dạng tổ chức kinh tế đưa đến tự do kinh tế trực tiếp, nghĩa là chủ nghĩa tư bản cạnh tranh, cũng thúc đẩy tự do chính trị vì nó chia tách quyền lực kinh tế với quyền lực chính trị và theo cách đó làm cho cái nầy cân bằng với cái kia.

Bằng chứng lịch sử nêu một cách nhất quán về mối quan hệ giữa tự do chính trị và thị trường tự do, tôi không biết có một xã hội nào từng có, xét về mặt thời gian hay không gian, có được tự do chính trị trong một phạm vi rộng lớn, mà lại không sử dụng một thể chế tương tự thị trường tự do để tổ chức phần lớn các hoạt động kinh tế.

Do chúng ta sống trong một xã hội tự do rộng lớn, chúng ta thường quên đi khoảng thời gian và phần của thế giới từng có tự do chính trị ngắn ngủi và hạn hẹp như thế nào: nhà nước đặc trưng của nhân loại là chuyên chế, nô lệ và nghèo khổ. Thế kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi trong thế giới phương Tây nảy sinh một trường hợp ngoại lệ đối với xu hướng phát triển lịch sử chung. Tự do chính trị trong trường hợp nầy rõ rệt đi cùng với thị trường tự do và sự phát triển của thiết chế tư bản. Tự do chính trị trong thời hoàng kim của Hy Lạp và trong những ngày đầu của kỷ nguyên La Mã cũng như vậy.

Lịch sử cho thấy duy nhất một điều, chủ nghĩa tư bản là điều kiện cần cho tự do chính trị. Rõ ràng nó không phải là điều kiện đủ. Chế độ phát-xít Ý và Tây Ban Nha, Đức ở những thời điểm khác nhau trong bảy mươi năm qua, Nhật trước Thế Chiến I và II, chế độ Sa hoàng Nga trong những thập kỷ trước Thế Chiến I đều là những xã hội không thể chấp nhận được xem là tự do chính trị. Tuy nhiên, trong các xã hội đó, doanh nghiệp tư nhân là dạng tổ chức kinh tế chính. Như vậy, rõ ràng là có thể có xã hội với thể chế kinh tế căn bản là tư bản chủ nghĩa nhưng thể chế chính trị không tự do.

Ngay trong những xã hội đó, công dân có nhiều tự do hơn công dân trong các xã hội toàn trị hiện đại như Nga hay Đức Quốc Xã là các xã hội có chế độ toàn trị kinh tế gắn chặt với chế độ toàn trị chính trị. Ngay ở Nga dưới thời Sa hoàng, vẫn có thể có một vài công dân trong một vài hoàn cảnh nào đó thay đổi việc làm của mình mà không phải xin phép chính quyền vì chủ nghĩa tư bản và sự hiện hữu sở hữu tư nhân mang đến một vài sự kiểm tra đối với quyền lực tập trung của nhà nước.

Mối quan hệ giữa tự do chính trị và tự do kinh tế phức tạp và hoàn toàn không một chiều. Vào đầu thế kỷ mười chín, Bentham và nhóm Philosophical Radicals (Những Người Cấp Tiến Triết Học) có khuynh hướng cho rằng tự do chính trị là phương tiện của tự do kinh tế. Họ tin rằng quần chúng bị những hạn chế áp đặt lên họ cản trở, và nếu tự do chính trị đưa cho số đông quần chúng quyền bầu cử, họ sẽ làm những gì tốt cho họ, đó là bỏ phiếu cho hệ thống tự do kinh doanh. Nhìn lại, người ta không thể cho rằng họ sai. Có một số lượng lớn các cuộc cải tổ chính trị gắn với cải tổ kinh tế theo chiều hướng tự do kinh doanh. Sự thay đổi thể chế kinh tế nầy mang lại một sự gia tăng khổng lồ về phúc lợi của quần chúng.

Chiến thắng của chủ nghĩa tự do trường phái Bentham trong thế kỷ mười chín ở Anh lại bị tiếp nối bằng một phản ứng theo hướng tăng thêm sự can thiệp của chính quyền trong các hoạt động kinh tế. Khuynh hướng thiên về chủ nghĩa tập thể nầy gia tăng mạnh mẽ cả ở Anh và ở những nơi khác do hai cuộc thế chiến. Phúc lợi thay vì tự do trở thành khẩu hiệu thống trị trong các quốc gia dân chủ. Nhận biết nguy cơ tiềm ẩn nầy đối với chủ nghĩa cá nhân, những hậu sinh của nhóm Philosophical Radicals, điểm sơ một vài người như Dicey, Mises, Hayek, và Simmons, lo ngại là một chiều hướng tiếp diễn về hướng kiểm soát tập trung các hoạt động kinh tế sẽ chứng minh "Đường Về Nô Lệ" như Hayek đặt tên cuốn sách phân tích sâu sắc quá trình nầy của ông ta. Nhấn mạnh của họ là tự do kinh tế là phương tiện đi đến tự do chính trị.

Những sự kiện từ sau khi kết thúc Thế Chiến II còn cho thấy một mối quan hệ khác biệt giữa tự do kinh tế và tự do chính trị. Việc lập kế hoạch kinh tế tập thể thực tế đã xâm phạm tự do cá nhân. Tuy vậy, ít ra ở một số nước, kết quả không phải là sự đàn áp tự do, mà là sự đảo ngược chính sách kinh tế. Nước Anh một lần nữa là ví dụ nổi bật nhất. Điểm ngoặt có lẽ là luật "kiểm soát việc làm", mà bất chấp nhiều lo ngại, Công đảng thấy cần thiết áp đặt để tiến hành chính sách kinh tế của nó. Được hoàn toàn thông qua và thực thi, luật đó liên quan đến sự phân bổ tập trung các cá nhân cho các ngành nghề. Điều nầy xung đột mạnh mẽ với tự do cá nhân đến mức nó chỉ được thi hành ở một số không đáng kể trường hợp, và rồi bị huỷ bỏ chỉ một thời gian ngắn sau khi luật có hiệu lực. Việc huỷ bỏ nó báo hiệu một sự chuyển đổi dứt khoát về chính sách kinh tế, đánh dấu bằng việc giảm sự tin tưởng vào các 'kế hoạch" và "chương trình" tập trung, bằng việc bãi bỏ nhiều sự kiểm soát, và bằng việc ngày càng coi trọng thị trường tư nhân. Một sự chuyển đổi chính sách tương tự đã xuất hiện ở hầu hết các quốc gia dân chủ khác.

Sự giải thích đúng nhất về các chuyển đổi chính sách nầy là thành công hạn chế của việc lập kế hoạch tập trung hoặc thất bại rõ ràng của nó trong việc đạt được các mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, thất bại nầy tự nó đã là thuộc tính, ít ra ở mức độ nào đó, đối với nội hàm chính trị của việc lập kế hoạch tập trung và đối với sự miễn cưỡng theo đuổi lý luận của nó vì khi làm như thế cần phải chà đạp tàn nhẫn lên quyền cá nhân cao quý. Có lẽ may khi mà sự chuyển đổi nầy chỉ là một sự gián đoạn tạm thời trong khuynh hướng chủ nghĩa tập thể của thế kỷ nầy. Tuy thế, nó minh hoạ mối quan hệ chặt chẽ giữa tự do chính trị và thể chế kinh tế.

Bằng chứng lịch sử tự nó không bao giờ có thể thuyết phục. Có lẽ chỉ là trùng hợp mà sự mở rộng tự do xuất hiện cùng lúc với sự phát triển các thiết chế tư bản và thị trường. Có chăng sự liên quan? Cái gì là mối liên hệ lôgic giữa tự do kinh tế và tự do chính trị? Khi thảo luận các vấn đề nầy trước hết chúng ta nên xem thị trường như là một phần cấu thành tự do, và tiếp đến xem xét mối quan hệ gián tiếp giữa thể chế thị trường và tự do chính trị. Sản phẩm phụ sẽ là đại cương thể chế kinh tế lý tưởng cho một xã hội tự do.

Là người (theo phái) tự do, chúng ta xem tự do cá nhân, hay có lẽ gia đình, là mục đích tối hậu khi xem xét các thể chế xã hội. Tự do theo nghĩa nầy là giá trị có từ các mối tương tác giữa con người; nó không một chút nghĩa lý gì đối với Robinson Crusoe trên đảo hoang (không có người hầu Man Friday). Robinson Crusoe trên đảo hoang bị hạn chế bởi những "ràng buộc", anh ta có một "quyền lực" hạn chế, và anh ta chỉ có một ít lựa chọn, nhưng không có chuyện tự do theo nghĩa thích hợp với thảo luận của chúng ta. Tương tự, trong một xã hội mà tự do không có gì phải bàn về điều cá nhân thực hiện với tự do của mình; nó không phải là đạo lý bao trùm. Thực ra, một mục đích chính của phái tự do là để vấn đề đạo đức cho cá nhân giải quyết. Các vấn đề đạo đức "thực sự" quan trọng là các vấn đề mà cá nhân đối diện trong một xã hội tự do, anh ta nên làm gì với tự do của mình. Như thế có hai tập hợp giá trị mà một người tự do coi trọng, các giá trị liên quan đến mối quan hệ giữa con người, là hoàn cảnh anh ta xác định ưu tiên trên hết cho tự do; và các giá trị liên quan đến sự thực hiện tự do của mình, là lĩnh vực của đạo đức cá nhân và triết lý

Con người tự do xem con người là một sinh linh hoàn hảo. Anh ta xem vấn đề tổ chức xã hội như là một vấn đề tiêu cực nhằm ngăn cản người "xấu" hành xử sai cũng như làm cho người "tốt" có thể làm điều tốt; và, dĩ nhiên, người "xấu" và "tốt" có thể chỉ là cùng một người, tuỳ vào ai là người phán xét họ.

Vấn đề tổ chức xã hội căn bản là làm thế nào để điều phối các hoạt động kinh tế của số đông con người. Ngay trong các xã hội tương đối lạc hậu, sự phân công lao động và chuyên môn hoá chức năng rộng rãi là cần thiết để sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có. Trong các xã hội tiên tiến, qui mô đòi hỏi sự điều phối để tận dụng các cơ hội do khoa học và công nghệ hiện đại mang lại là cực kỳ to lớn. Đúng là hàng triệu người liên quan đến việc cung cấp bữa ăn hàng ngày cho người khác, chưa nói đến cung cấp xe hơi hàng năm. Thách thức đối với những tín đồ của tự do là hài hoà sự tương thuộc phổ biến nầy với tự do cá nhân.

Về căn bản, chỉ có hai cách điều phối các hoạt động kinh tế của hàng triệu người. Một là chỉ huy tập trung gắn với việc sử dụng các công cụ cưỡng bức của quân đội và của nhà nước toàn trị hiện đại. Cách thứ hai là hợp tác tự nguyện của các cá nhân thông qua công cụ của thị trường.

Khả năng điều phối thông qua hợp tác tự nguyện dựa trên giả định sơ đẳng tuy vẫn thường bị bác bỏ là cả hai bên của một giao dịch kinh tế đều có lợi từ giao dịch đó, với điều kiện là giao dịch nầy là hai bên tự nguyện và được thông tin như nhau.

Vì thế sự trao đổi có thể dẫn đến việc điều phối không phải ép buộc. Một mô hình xã hội được tổ chức thông qua trao đổi tự nguyện có thể vận hành được là nn kinh tế kinh doanh tư nhân tự do, cái mà chúng ta gọi là chủ nghĩa tư bản cạnh tranh.

Ở hình thức đơn giản nhất của nó, một xã hội như vậy bao gồm một số tập hợp các hộ gia đình độc lập như Robinson Crusoe. Mỗi hộ sử dụng các nguồn lực nó kiểm soát để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ để trao đổi với hàng hoá và dịch vụ do hộ khác sản xuất, trên cơ sở những điều khoản được các bên chấp nhận để để hai bên tiến hành cuộc trao đổi. Theo cách đó nó tạo điều kiện để thoả mãn nhu cầu của nó một cách gián tiếp thông qua sản xuất hàng hoá và dịch vụ, sản xuất tăng lên tạo khả năng cho phân công lao động và chuyên môn hoá chức năng. Vì các hộ luôn có lựa chọn là sản xuất trực tiếp cho chính nó, nó không cần phải tham gia trao đổi nào cả trừ khi nó có lợi từ trao đổi đó. Như vậy, không có cuộc trao đổi nào xảy ra nếu hai bên không có lợi từ nó. Bằng cách đó có được sự hợp tác mà không phải cuỡng bức.

Chuyên môn hoá chức năng và phân công lao động sẽ không tiến xa nếu đơn vị sản xuất cơ bản là hộ gia đình. Trong một xã hội hiện đại, chúng ta đi xa hơn nhiều. Chúng ta đã phát minh ra doanh nghiệp là phương tiện trung gian giữa các cá nhân với khả năng như là nhà cung cấp các dịch vụ và người mua hàng hoá. Và tương tự, chuyên môn hoá chức năng và phân công lao động không thể tiến xa nếu chúng ta tiếp tục dựa trên sự trao đổi hàng lấy hàng giản đơn. Vì thế, tiền tệ được phát minh như là phương tiện làm thuận tiện sự trao đổi và làm các hành vi mua và bán thành hai việc riêng rẻ.

Bất chấp vai trò quan trọng của doanh nghiệp và của tiền tệ trong nền kinh tế thực của chúng ta và bất chấp vô số vấn đề phức tạp mà chúng tạo ra, đặc trưng cốt yếu của công cụ thị trường nhằm đạt được sự điều phối được trình bày đầy đủ trong một nền kinh tế trao đổi đơn giản không có cả doanh nghiệp và tiền tệ. Ở mô hình giản đơn đó, cũng như trong nên kinh tế phức tạp có cả doanh nghiệp và trao đổi dùng tiền tệ, sự hợp tác hoàn toàn mang tính cá nhân và tự nguyện với các điều kiện: (a) các doanh nghiệp là tư nhân, để các bên tham gia hợp đồng rốt cuộc là các cá nhân và (b) các cá nhân thực sự tự do tham gia hay không bất kỳ một trao đổi cụ thể nào, để mọi giao dịch là hoàn toàn tự nguyện.

Nêu những điều kiện nầy một cách chung chung dễ hơn nhiều so với phải đề cập chúng chi tiết, hay chỉ ra chính xác các thiết chế có lợi nhất cho việc duy trì chúng. Thực ra, phần lớn các công trình nghiên cứu kinh tế kỹ thuật quan tâm đến chính các vấn đề nầy. Điều kiện căn bản là duy trì luật pháp và trật tự để ngăn ngừa sự cưỡng bức của cá nhân nầy đối với cá nhân khác và để buộc thực thi các hợp đồng đã tự nguyện tham gia, như thế tạo thực chất cho "tư nhân". Ngoài ra, có lẽ vấn đề khó khăn nhất nảy sinh từ sự độc quyền làm ngăn cản tự do thực sự qua việc ngăn cản các lựa chọn cá nhân đối với sự trao đổi cụ thể và từ "hiệu ứng láng giềng" tác động lên bên thứ ba vốn không khả thi thu phí hay bồi thường chúng. Các vấn đề nầy sẽ được thảo luận chi tiết hơn ở chương sau.

Khi mà tự do thực sự được duy trì, đặc trưng cốt yếu của tổ chức thị trường các hoạt động kinh tế là nó ngăn ngừa người này quấy rầy các hoạt động của người khác. Người tiêu dùng được bảo vệ không bị người bán ép buộc do sự có mặt của những người bán khác mà anh ta có thể giao dịch. Người bán được bảo vệ không bị người tiêu dùng ép buộc vì anh ta có thể bán cho những người tiêu dùng khác. Nhân viên được bảo vệ không bị người chủ ép buộc vì họ có thể làm cho những người chủ khác, và cứ thế. Và thị trường thực hiện điều nầy không có ai can dự và cũng không quyền lực tập trung.

Thực ra, một nguồn phản đối chủ yếu với kinh tế tự do chính xác là nó thực hiện nhiệm vụ nây quá tốt. Nó cung cấp cho mọi người cái mà họ muốn thay vì một nhóm nào đó nghĩ rằng họ phải muốn. Nằm dưới phần lớn ý kiến chống lại thị trường tự do là sự thiếu niềm tin vào chính sự tự do.

Sự tồn tại của thị trường tự do dĩ nhiên không loại bỏ sự cần có chính quyền. Mà trái lại, chính quyền cần thiết cả như một diễn đàn để quyết định "luật chơi" và cả như một trọng tài để giải thích và buộc thực thi luật lệ đã được qui định. Điều mà thị trường thực hiện là làm giảm rất nhiều phạm vi các vấn đề phải giải quyết thông qua phương tiện chính trị, và do đó tối thiểu hoá mức độ chính quyền cần phải tham gia trực tiếp vào cuộc chơi. Nét đặc trưng của hành động thông qua các kênh chính trị là nó thường yêu cầu hay bắt buộc sự tuân thủ nghiêm ngặt. Mặt khác, ưu thế to lớn của thị trường là nó cho phép tính đa dạng rộng rãi. Theo ngôn từ chính trị, nó là một hệ thống đại diện theo tỉ lệ. Có thể nói, mọi người có thể bỏ phiếu cho màu cà-vạt mà anh ta muốn và có được nó; anh ta không phải xem số đông muốn màu gì và rồi phục tùng nếu anh ta thuộc thiểu số.

Chính đây là đặc trưng của thị trường mà chúng tôi đề cập đến khi chúng tôi nói rằng thị trường đưa lại tự do kinh tế. Nhưng đặc trưng nầy cũng có hàm ý vượt xa khỏi ý nghĩa kinh tế hạn hẹp. Tự do chính trị có nghĩa không có sự cưỡng bức của một người đối với công dân của mình. Nguy cơ căn bản đối với tự do là quyền lực cưỡng bức ở trong tay một nhà vua, nhà độc tài, một ông trùm, hay một đa số nhất thời. Việc duy trì tự do đòi hỏi loại bỏ sự tập trung quyền lực như thế ở mức độ có thể thực hiện đầy đủ nhất đồng thời phân tán và chia xẻ bất cứ quyền lực nào không thể loại bỏ thông qua một hệ thống kiểm tra và cân bằng. Với việc đưa sự tổ chức các hoạt động kinh tế thoát khỏi sự kiểm soát của quyền lực chính trị, thị trường loại bỏ nguồn quyền lực áp chế nầy. Nó làm cho sức mạnh kinh tế trở thành một sự kiểm tra đối với quyền lực chính trị hơn là củng cố nó.

Quyền lực kinh tế có thể được phân tán rộng. Không có bất cứ luật bảo toàn nào bắt buộc sự tăng trưởng của những trung tâm sức mạnh kinh tế mới được đánh đổi bằng sự hy sinh các trung tâm kinh tế hiện thời. Mặt khác, quyền lực chính trị khó phân tán hơn. Có thể có vô số chính quyền nhỏ. Nhưng khó hơn nhiều để duy trì vô số trung tâm quyền lực chính trị nhỏ và cân bằng bên trong một chính phủ lớn đơn lẻ so với việc có vô số trung tâm sức mạnh kinh tế trong một nền kinh tế lớn đơn lẻ. Có thể có nhiều triệu phú trong một nền kinh tế lớn. Nhưng liệu có thể có nhiều hơn một người lãnh đạo kiệt xuất, một người mà năng lực và nhiệt tình của tất cả đồng bào của anh ta đều dồn đó? Nếu chính quyền trung ương nắm quyền lực, gần như sẽ là sự hy sinh quyền lực của các chính quyền địa phương. Dường như tồn tại điều gì đó như là một tổng số cố định quyền lực chính trị được phân chia. Do vậy, nếu quyền lực kinh tế gắn với quyền lực chính trị sẽ không tránh khỏi sự tập trung. Mặt khác, nếu quyền lực kinh tế được tách rời khỏi quyền lực chính trị nó có thể được dùng như là sự kiểm tra và sự đối lập đối với quyền lực chính trị.

Ý nghĩa của luận cứ trừu tượng nầy có lẽ được minh hoạ tốt nhất bằng ví dụ. Trước tiên, chúng ta hãy xem một ví dụ giả định có thể giúp mang đến các nguyên tắc liên quan, và tiếp đó một vài ví dụ thực tế từ những trải nghiệm gần đây minh hoạ cách thức thị trường vận hành để bảo toàn tự do chính trị.

Một đặc trưng của xã hội tự do chắc chắn là tự do của các cá nhân được cổ vũ và phổ biến công khai thay đổi triệt để trong cấu trúc của xã hội miễn là sự cổ vũ đó được hạn chế ở dạng thuyết phục và không bao gồm sức mạnh hay hình thức ép buộc nào khác. Biểu hiện của tự do chính trị của xã hội tư bản chính là việc mọi người có thể công khai cổ vũ và làm việc cho chủ nghĩa xã hội. Tương tự, tự do chính trị trong xã hội xã hội chủ nghĩa cần để cho mọi người tự do cổ vũ cho sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản. Làm sao mà tự do cổ vũ cho chủ nghĩa tư bản được giữ gìn và bảo vệ trong một xã hội xã hội chủ nghĩa?

Để cho mọi người ủng hộ điều gì, trước hết họ phải có thể kiếm sống. Điều nầy đã làm nảy sinh một vấn đề trong xã hội xã hội chủ nghĩa vì tất cả việc làm đều do chính quyền kiểm soát trực tiếp. Cần có một hành vi tự khắc chế, hành vi mà khó khăn của nó được nhấn mạnh bằng những trải nghiệm ở Mỹ sau Thế Chiến lần II về vấn đề "an ninh" trong viên chức của Liên bang, để một chính quyền xã hội chủ nghĩa cho phép viên chức của mình ủng hộ các chính sách đối lập trực tiếp với học thuyết chính thống.

Nhưng chúng ta giả sử có được hành vi tự khắc chế nầy. Để sự cổ vũ cho chủ nghĩa tư bản có thực chất, những người đề xướng phải có thể tài trợ cho sự nghiệp của họ để tổ chức hội họp, ấn hành tờ rơi, phát sóng truyền thanh, xuất bản báo chí, tạp chí, và vân vân. Làm thế nào để họ có thể gây quỹ? Có thể và có lẽ có những người trong xã hội xã hội chủ nghĩa có thu nhập cao, thậm chí có thể là một món tiền lớn ở dạng trái phiếu chính phủ hay tương tự, nhưng chắc chắn những người nầy là những viên chức cấp cao. Có thể mường tượng có một viên chức xã hội chủ nghĩa cấp thấp vẫn giữ công việc của mình cho dù công khai ủng hộ chủ nghĩa tư bản. Sẽ là nhẹ dạ nếu nghĩ đến một viên chức xã hội chủ nghĩa cấp cao tài trợ cho những hoạt động "lật đổ" như thế.

Chỗ trông cậy chính để gây quỹ sẽ là vận động những đóng góp nhỏ của số đông các viên chức cấp thấp. Nhưng điều nầy không có một đáp án thực tế. Để thu được các nguồn nầy, nhiều người phải được thuyết phục sẳn, và vấn đề của chúng ta là cách thức khởi động và tài trợ một chiến dịch để làm điều đó. Các phong trào cấp tiến trong các xã hội tư bản chưa bao giờ được tài trợ theo cách như thế nầy. Chúng thường được sự ủng hộ của một số ít cá nhân giàu có, những người đã bị thuyết phục bởi Frederick Vanderbilt Field, hay Anita McCormick Blaine, hay Corliss Lamont, chỉ là một ít trong những cái tên nổi bật gần đây, hay bởi Friedrich Engels, nếu trở lại xa hơn. Chính vai trò nầy của sự bất bình đẳng tài sản trong việc bảo toàn tự do chính trị hiếm khi được ghi nhận như là vai trò của người bảo trợ.

Trong xã hội tư bản, không chỉ cần thuyết phục số ít người giàu có để gây quỹ cho một tư tưởng nào đó, tuy có vẻ kỳ lạ là có nhiều người như vậy, nhiều tiêu điểm hỗ trợ độc lập. Và thực ra, thậm chí không cần phải thuyết phục mọi người hay các tổ chức tài chính có sẵn ngân quỹ về tính đúng đắn của các ý tưởng được phổ biến. Chỉ cần thuyết phục họ là sự phổ biến đó có thể thành công về mặt tài chính; báo chí hay tạp chí hay sách hay đề án khác sẽ có lãi. Chẳng hạn, nhà xuất bản có tính cạnh tranh không thể tài trợ xuất bản tác phẩm mà chỉ anh ta tán thành với tư cách cá nhân; tiêu chuẩn của anh ta phải là khả năng có một thị trường đủ lớn để có được thu nhập thoả đáng từ đầu tư của mình.

Theo cách nầy, thị trường thị trường phá vỡ cái vòng lẩn quẩn và làm cho nó có thể tài trợ cho những dự án như thế bằng những món tiền nhỏ từ nhiều người mà không cần phải thuyết phục họ. Không thể có khả năng đó trong xã hội xã hội chủ nghĩa; chỉ có nhà nước quyền lực tuyệt đối

Chúng ta hãy thả lỏng trí tưởng tượng của mình và giả sử rằng chính quyền xã hội chủ nghĩa nhận thức được vấn đề nầy và là người lo lắng bảo toàn tự do. Nó có thể cung cấp quỹ không? Có thể, nhưng thật khó để thấy bằng cách nào. Nó có thể lập nên một văn phòng trợ cấp cho việc tuyên truyền lật đổ. Nhưng làm sao để nó chọn ra người nào để hỗ trợ? Nếu nó cung cấp cho tất cả mọi người yều cầu, nó sẽ nhanh chóng cạn quỹ, đối với chủ nghĩa xã hội không thể bãi bỏ qui luật kinh tế sơ đẳng là một mức giá cao thoả đáng sẽ mời gọi một nguồn cung lớn. Hãy làm cho sự ửng hộ của sự nghiệp cấp tiến có được đền đáp thoả đáng, và nguồn cung cấp sự ủng hộ sẽ vô cùng to lớn.

Hơn nữa, tự do ủng hộ những sự nghiệp không có tính đại chúng không đòi hỏi một sự cổ vũ như thế mà không tốn kém. Ngược lại, không một xã hội nào có thể ổn định nếu sự ủng hộ những thay đổi cấp tiến không tốn một chút gì hay chỉ cần một chút ít tài trợ. Mọi người hy sinh để cổ vũ cho sự nghiệp mà họ tin tưởng sâu sắc là một việc hoàn toàn thích đáng. Thực ra, cần thiết bảo toàn tự do chỉ cho những người sẵn sàng tự khắc chế, đối với những người khác tự do sẽ thoái hoá thành sự phóng túng và vô trách nhiệm. Điều thiết yếu là giá của việc ủng hộ những sự nghiệp không có tính đại chúng có thể chịu đựng được và không quá đắt.

Nhưng, chưa hết. Trong một xã hội thị trường tự do dễ dàng để có quỹ. Nhà cung cấp giấy sẵn sàng bán giấy cho tờ Daily Worker cũng như cho tờ Wall Street Journal. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa không dễ dàng để có quỹ. Người được giả sử là ủng hộ chủ nghĩa tư bản sẽ phải thuyết phục các nhà máy giấy quốc doanh bán giấy cho anh ta, nhà in quốc doanh in tờ rơi cho anh ta, bưu điện quốc doanh phân phát tờ rơi cho mọi người, một cơ quan quốc doanh cho anh ta thuê hội trường để diễn thuyết, và vân vân.

Có thể có một cách nào đó để vượt qua những khó khăn nầy và bảo toàn tự do trong một xã hội xã hội chủ nghĩa. Không thể nói tuyệt đối không làm được. Tuy thế, rõ ràng là có những khó khăn thực sự trong việc lập nên những thiết chế để bảo toàn thực sự khả năng của những người bất đồng chính kiến. Theo như tôi biết, không một ai từng ủng hộ chủ nghĩa xã hội và cũng ủng hộ tự do đã thực sự đối mặt với vấn đề nầy, hay thậm chí tạo một sự khởi đầu đáng kể nhằm phát triển những thiết chế cho phép tự do trong chủ nghĩa xã hội. Trái lại, quá rõ một xã hội tư bản thị trường tự do cổ vũ tự do như thế nào.

Một ví dụ thực tế nổi bật của các nguyên tắc trừu tượng nầy là trải nghiệm của Winston Churchill. Từ năm 1933 đến khi bùng nổ Thế Chiên II, Churchill không được phép phát biểu trên sóng truyền thanh của Anh, vốn hiển nhiên được chính quyền độc quyền quản lý thông qua Bristish Broading Copration. đây là một công dân hàng đầu của đất nước mình, một thành viên Quốc hội, một cựu bộ trưởng, một người liều lĩnh nỗ lực tìm mọi cách có thể để thuyết phục đồng bào mình có biện pháp với mối đe doạ từ nước Đức của Hitler. Ông ấy không được phép phát biểu trên sóng truyền thanh với dân Anh vì BBC là độc quyền của nhà nước và vị trí quan điểm của ông "có vấn đề".

Một ví dụ nổi bật khác, được tường thuật trong số ngày 26 Tháng Giêng năm 1959 của báo Time, liên quan đến vụ "Blacklist Fadeout". Theo Time tường thuật,

Nghi thức trao giải Oscar là đỉnh cao của phẩm giá, nhưng cách đây hai năm phẩm giá bị thách thức. Khi Robert Rich được công bố là tác giả đoạt giải với vở Người Dũng Cảm (The Brave One), ông ta không bao giờ bước ra nhận giải. Robert Rich là bút danh ẩn mình của một trong 150 nhà văn...bị ngành giải trí liệt vào danh sách đen từ năm 1947 là những người bị nghi là Cộng sản hay đi theo cộng sản. Trường hợp nầy đặc biệt gây bối rối vì Viện Hàn Lâm Điện Ảnh đã ngăn cấm bất cứ Người cộng sản hay người bị xem xét theo Tu chính án Thứ Năm tham gia tranh giải. Tuần trước, cả qui định Cộng sản và bí mật nhân dạng của Rich bất ngờ được công bố

Hoá ra Rich là Dalton Trumbo (tác giả của John Got His Gun), một trong các tác giả thuộc nhóm "Mười tác gia Hollywood" đầu tiên, những người từ chối làm chứng ở các buổi điều trần năm 1947 về Chủ nghĩa Cộng sản trong ngành điện ảnh. Nhà sản xuất Frank King, người đã quả quyết rằng Robert Rich là "một gã trai trẻ có râu ở Tây Ban Nha", nói "Chúng tôi có nghĩa vụ với cổ đông mua kịch bản tốt nhất mà chúng tôi có thể mua. Trumpo mang đến cho chúng tôi Người Dũng Cảm và chúng tôi mua nó"....

Đó gần như là sự kết thúc chính thức danh sách đen của Hollywood. Đối với các nhà văn bị cấm, sự kết thúc không chính thức đã xảy ra từ lâu. Ít nhất 15% số phim hiện thời được cho là do các nhà văn có trong danh sách đen sáng tác. Nhà sản xuất King nói, " Có nhiều ma ở Hollywood hơn ở nghĩa trang Forest Lawn. Mọi công ty ở đó đều sử dụng tác phẩm của những người nằm trong danh sách đen. Chúng ta chỉ là những người đầu tiên xác nhận điều mà mọi người đều biết."

Mọi người, cũng như tôi, có lẽ tin rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ huỷ hoại tất cả tự do của chúng ta, người ta có thể chống đối nó một cách hết sức kiên quyết và mạnh mẽ, và tuy thế, cùng lúc cũng có thể tin rằng trong một xã hội tự do có thể để cho một người bị ngăn cản lập nên với người khác những thoả thuận tự nguyện hấp dẫn cả hai do anh ta tin vào hay cố gắng cổ vũ chủ nghĩa cộng sản. Tự do của anh ta bao gồm tự do ủng hộ chủ nghĩa cộng sản của anh ấy. Dĩ nhiên, tự do cũng bao gồm tự do của những người khác không giao thiệp với anh ta trong những hoàn cảnh đó. Danh sách đen của Hollywood là một hành vi phi tự do phá hoại tự do vì nó là một sự dàn xếp thông đồng sử dụng những phương tiện ép buộc để ngăn cản trao đổi tự nguyện. Nó đã không vận hành chính xác vì thị trường làm cho nó trở thành tốn kém cho mọi người bảo vệ danh sách đen. Sự nhấn mạnh có tính thương mại, thực tế mà mọi người đang vận hành các doanh nghiệp có động cơ kiếm tiền càng nhiều càng tốt, bảo vệ tự do của các cá nhân nằm trong danh sách đen bằng cách đưa lại cho họ một hình thức việc làm khác, và bằng cách mang đến cho mọi người động cơ để sử dụng họ.

Nếu Hollywood và ngành điện ảnh có các xí nghiệp quốc doanh và nếu ở Anh việc làm là chuyện của BBC, thật khó để tin rằng "Nhóm Mười Người Hollywood" và những tổ chức tương tự sẽ tìm được việc làm.. Cũng thế, thật khó để tin trong hoàn cảnh đó những người ủng hộ chủ nghĩa cá nhân và doanh nghiệp tư nhân hay những người ủng hộ thực sự mạnh mẽ bất cứ quan điểm nào khác với hiện trạng có thể kiếm được việc làm.

Một ví dụ khác về vai trò của thị trường trong việc bảo toàn tự do chính trị được thấy từ trải nghiệm của chúng ta về chủ nghĩa McCarthy. Hoàn toàn không tính đến những vấn đề thực sự liên quan, và sự xứng đáng của các cáo buộc, các cá nhân, và đặc biệt các viên chức chính quyền, đã tiến hành sự bảo vệ nào chống lại sự buộc tội vô trách nhiệm và phát hiện các vấn đề chống lại lương tâm của họ được nhìn thấy? Sự chống lại Tu chính án Thứ Năm của họ sẽ là sự nhạo báng giả dối không có thay thế đối với làm việc cho chính quyền.

Sự bảo vệ căn bản của họ là sự tồn tại của một nền kinh tế thị trường-tư nhân trong đó họ có thể kiếm sống. Ở đây lần nữa, sự bảo vệ đó là không tuyệt đối. Nhiều ông chủ tư nhân tiềm năng, đúng hoặc sai, không thích thuê các --. có rất ít sự biện minh cho chi phí áp đặt lên nhiều người liên quan hơn là đối với chi phí áp đặt chung chung lên những người ủng hộ các sự nghiệp không mang tính đại chúng. Nhưng điểm quan trọng là chi phí đó được giới hạn và không ngăn trở, giống như trong trường hợp việc làm việc cho chính quyền là khả năng duy nhất.

Cần lưu ý rằng một tỉ lệ lớn không tương xứng mọi người liên quan dường như đi vào các lĩnh vực cạnh tranh nhất của nền kinh tế, doanh nghiệp nhỏ, buôn bán, làm nông, những nơi mà thị trường tiệm cận gần gũi nhất với thị trường tự do lý tưởng. Không một ai mua một cái bánh mì biết được bột mì do người Cộng sản hay người Cộng hoà sản xuất. do người theo chủ nghĩa hợp hiến hay một người Phát-xít, hay, cũng thế, một người da đen hay người da trắng. Điều nầy minh hoạ cách thức một thị trường phi nhân chia tách các hoạt động kinh tế khỏi các quan điểm chính trị và bảo vệ mọi người không bị phân biệt đối xử trong các hoạt động kinh tế của họ vì nnững lý do không thích hợp đối với công việc của bất kể lý do đó liên quan đến quan điểm hay màu da của họ.

Như ví dụ nầy cho thấy, các nhóm trong xã hội của chúng ta có nguy cơ nhất trong việc bảo toàn và củng cố chủ nghĩa tư bản cạnh tranh là những nhóm thiểu số vốn có thể dễ dàng trở thành đối tượng của sự hoài nghi và thù địch của đa số, những người da đen, những người Do thái, những người sinh ở nước ngoài, là vài trường hợp hiển nhiên nhất. Tuy nhiên, cũng khá nghịch lý, kẻ thù của thị trường tự do, những người Xã hội chủ nghĩa và những người Cộng sản đã được tuyển mộ với tỉ lệ không tương xứng từ những nhóm nầy. Thay vì thừa nhận rằng sự tồn tại của thị trường đã bảo vệ họ trước thái độ của công dân nước mình, họ đã sai lầm đổ cho thị trường sự phân biệt còn sót lại.

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2009

Chương I - Mối quan hệ giữa Tự Do Kinh Tế và Tự Do Chính Trị


Người ta thường nghĩ rằng chính trị và kinh tế là hai lĩnh vực riêng biệt và hầu như không quan hệ với nhau; rằng tự do cá nhân là vấn đề chính trị và phúc lợi vật chất là vấn đề kinh tế; và rằng bất kỳ thể chế chính trị nào cũng có thể kết hợp với bất kỳ thể chế kinh tế nào. Biểu hiện đương đại chính của tư tưởng nầy là sự ủng hộ "chủ nghĩa xã hội dân chủ" của những người kết án một cách thiếu cân nhắc sự hạn chế tự do cá nhân do chủ nghĩa xã hội toàn trị áp đặt ở Nga, và những người bị thuyết phục rằng một quốc gia có thể áp dụng một số đặc trưng chủ yếu của thể chế kinh tế Nga mà vẫn bảo đảm tự do cá nhân thông qua các thể chế chính trị. Luận đề của chương nầy cho rằng quan điểm đó chỉ là một ảo tưởng, rằng có một mối quan hệ gần gũi giữa kinh tế và chính trị, và rằng chỉ có thể có một số kết hợp nhất định giữa thể chế chính trị và thể chế kinh tế, và đặc biệt rằng, một xã hội xã hội chủ nghĩa không thể đồng thời là một xã hội dân chủ, theo nghĩa bảo đảm tự do cá nhân.


Thể chế kinh tế đóng một vai trò kép trong việc thúc đẩy một xã hội tự do. Một mặt, tự do trong thể chế kinh tế tự nó là phần cấu thành của tự do được hiểu rộng rãi, vì thế tự do kinh tế là một cứu cánh tự thân. Mặt khác, tự do kinh tế cũng là một phương tiện không thể thiếu nhằm đạt được tự do chính trị.

Vai trò trước hết nầy của tự do kinh tế cần đặc biệt nhấn mạnh vì đặc biệt giới trí thức có một sự thiên lệch về tầm quan trọng của khía cạnh nầy của tự do. Họ thường biểu lộ sự khinh rẻ cái mà họ cho là khía cạnh vật chất của đời sống, và xem sự theo đuổi các giá trị được cho là cao cả của riêng họ nằm ở một tầm quan trọng khác biệt và đáng được quan tâm đặc biệt. Tuy vậy, đối với đa số công dân trong một nước, cứ cho là khác đi đối với trí thức, tầm quan trọng trực tiếp của tự do kinh tế ít nhất có thể so sánh về ý nghĩa với tầm quan trọng gián tiếp của tự do kinh tế như là phương tiện đối với tự do chính trị.

Công dân của Vương quốc Anh, những người sau Chiến Tranh Thế Giới thứ Hai không được phép đi nghỉ ở Mỹ do sự kiểm soát hối suất, bị tước đoạt sự tự do thiết yếu không kém tí nào so với những công dân Mỹ, những người bị từ chối cơ hội đi nghỉ ở Nga vì quan điểm chính trị. Một bên có vẻ là sự giới hạn kinh tế đối với tự do và bên kia là sự giới hạn chính trị, tuy nhiên không có sự khác biệt quan trọng nào giữa hai bên.


Công dân Mỹ, những người bị luật ép buộc dành khoảng 10 phần trăm thu nhập của mình để mua một loại hợp đồng hưu trí đặc biệt do chính phủ quản lý, là đang bị tước đoạt một phần tương ứng tự do cá nhân của họ. Sự tước đoạt này được cảm nhận mạnh đến mức nào và sự gần gũi của nó đối với sự tước đoạt tự do tôn giáo, mà mọi người vốn xem là "dân sự" hay "chính trị" thay vì "kinh tế", đã được kịch hoá trong một hồi liên quan đến một nhóm nông dân của giáo phái Amis. Về nguyên tắc, nhóm này xem các chương trình bắt buộc xưa cũ là sự xâm phạm tự do cá nhân của họ và từ chối đóng thuế hay chấp nhận các lợi ích. Kết quả là, một số gia súc của họ được bán đấu giá để đáp ứng đòi hỏ về thuế an ninh xã hội. Đúng là số công dân xem sự bảo đảm bắt buộc xưa cũ là sự tước đoạt tự do có thể ít, nhưng tín đồ của tự do chưa bao giờ đếm số người.

Một công dân Mỹ, chịu chi phối của luật lệ nhiều bang khác nhau không được tự do theo đuổi nghề nghiệp do mình tự chọn nếu không có được giấy phép cho điều đó, cũng đang bị tước đoạt một phần thiết yếu tự do của anh ta. Vì thế, một người muốn trao đổi một số hàng hoá, chẳng hạn, với một người Thuỵ Sỹ để lấy chiếc đồng hồ nhưng bị ngăn cản không cho làm điều đó bởi hạn ngạch Cũng như vậy, một người ở bang California bị ném vào tù vì bán thuốc giảm đau Alka Seltzer với giá thấp hơn giá do những nhà sản xuất xác lập theo cái gọi là luật "tự do thương mại". Cũng như thế là người nông dân không thể trồng số lượng lúa mì mà anh ta muốn. Và cứ thế. Rất rõ, tự do kinh tế, cấu thành và tự thân, là một phần cực kỳ quan trọng của tự do tuyệt đối.

Được xem như là phương tiện của cứu cánh là tự do chính trị, thể chế kinh tế quan trọng vì tác động của nó lên sự tập trung và phân tán quyền lực. Dạng tổ chức kinh tế đưa đến tự do kinh tế trực tiếp, nghĩa là, chủ nghĩa tư bản cạnh tranh, cũng thúc đẩy tự do chính trị vì nó chia tách quyền lực kinh tế với quyền lực chính trị và theo cách đó làm cho cái nầy cân bằng với cái kia.

Bằng chứng lịch sử nêu một cách nhất quán về mối quan hệ giữa tự do chính trị và thị trường tự do, tôi không biết có một xã hội nào từng có, xét về mặt thời gian hay không gian, có được tự do chính trị trong một phạm vi rộng lớn, mà lại không sử dụng một thể chế tương tự thị trường tự do để tổ chức phần lớn các hoạt động kinh tế.

Do chúng ta sống trong một xã hội tự do rộng lớn, chúng ta thường quên i khoảng thời gian và phần của thế giới từng có tự do chính trị ngắn ngủi và hạn hẹp như thế nào: nhà nước đặc trưng của nhân loại là chuyên chế, nô lệ và nghèo khổ. Thế kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi trong thế giới phương Tây nảy sinh một trường hợp ngoại lệ đối với khuynh hướng phát triển lịch sử chung. Tự do chính trị trong trường hợp nầy rõ rệt đi cùng với thị trường tự do và sự phát triển của thiết chế tư bản. Tự do chính trị trong thời hoàng kim của Hy Lạp và trong những ngày đầu của kỷ nguyên La Mã cũng như vậy.

Lịch sử cho thấy duy nhất một điều rằng chủ nghĩa tư bản là điều kiện cần cho tự do chính trị. Rõ ràng nó không phải là điều kiện đủ. Chế độ phát-xít Ý và Tây Ban Nha, Đức ở những thời điểm khác nhau trong bảy mươi năm qua, Nhật trước Thế Chiến I và II, chế độ Sa hoàng Nga trong những thập kỷ trước Thế Chiến I đều là những xã hội không thể chấp nhận được xem là tự do chính trị. Tuy nhiên, trong các xã hội đó, doanh nghiệp tư nhân là dạng tổ chức kinh tế chính. Như vậy, rõ ràng là có thể có xã hội với thể chế kinh tế căn bản là tư bản chủ nghĩa nhưng thể chế chính trị không tự do.

Ngay trong những xã hội đó, công dân có nhiều tự do hơn công dân trong các xã hội toàn trị hiện đại như Nga hay Đức Quốc Xã, trong các xã hội nầy chế độ toàn trị kinh tế gắn chặt với chế độ toàn trị chính trị. Ngay ở Nga dưới thời Sa hoàng, vẫn có thể có mộ vài công dân, trong một vài hoàn cảnh, thay đổi việc làm của mình mà không phải xin phép chính quyền vì chủ nghĩa tư bản và sự hiện hữu sở hữu tư nhân mang đến một vài sự kiểm tra đối với quyền lực tập trung của nhà nước.

Mối quan hệ giữa tự do chính trị và tự do kinh tế phức tạp và hoàn toàn không đơn phương. Vào đầu thế kỷ mười chín, Bentham và nhóm Philosophical Radicals (Những Người Cấp Tiến Triết Học) có khuynh hướng cho rằng tự do chính trị là phương tiện của tự do kinh tế. Họ tin rằng quần chúng bị những hạn chế áp đặt lên họ cản trở, và nếu tự do chính trị đưa cho số đông quần chúng quyền bầu cử, họ sẽ làm những gì tốt cho họ, đó là bỏ phiếu cho hệ thống tự do kinh doanh. Nhìn lại, người ta không thể cho rằng họ sai. Có một số lượng lớn các cuộc cải tổ chính trị gắn với cải tổ kinh tế theo chiều hướng tự do kinh doanh. Sự thay đổi thể chế kinh tế nầy mang lại một sự gia tăng khổng lồ về phúc lợi của quần chúng.

Chiến thắng của chủ nghĩa tự do trường phái Bentham trong thế kỷ mười chín ở Anh lại bị tiếp nối bằng một sự phản ứng theo hướng tăng thêm sự can thiệp của chính quyền trong các hoạt động kinh tế. Khuynh hướng thiên về chủ nghĩa tập thể nầy gia tăng mạnh mẽ, cả ở Anh và ở những nơi khác, do hai cuộc thế chiến. Phúc lợi thay vì tự do trở thành khẩu hiệu thống trị trong các quốc gia dân chủ. Nhận biết nguy cơ tiềm ẩn nầy đối với chủ nghĩa cá nhân, những hậu sinh của nhóm Philosophical Radicals, điểm sơ một vài người như Dicey, Mises, Hayek, và Simmons, lo ngại rằng một chiều hướng tiếp diễn về hướng kiểm soát tập trung các hoạt động kinh tế sẽ chứng minh "Đường Về Nô Lệ" như Hayek đặt tên cuốn sách phân tích sâu sắc quá trình nầy của ông ta. Nhấn mạnh của họ là tự do kinh tế là phương tiện đi đến tự do chính trị.

Những sự kiện từ sau khi kết thúc Thế Chiến II còn cho thấy một mối quan hệ khác biệt giữa tự do kinh tế và tự do chính trị. Việc lập kế hoạch kinh tế tập thể thực tế đã xâm phạm tự do cá nhân. Tuy vậy, ít ra ở một số nước, kết quả không phải là sự đàn áp tự do, mà là sự đảo ngược chính sách kinh tế. Nước Anh một lần nữa là ví dụ nổi bật nhất. Điểm ngoặt có lẽ là luật "kiểm soát việc làm", mà bất chấp nhiều lo ngại, Công đảng thấy cần thiết áp đặt để tiến hành chính sách kinh tế của nó. Được hoàn toàn thông qua và thực thi, luật đó liên quan đến sự phân bổ tập trung các cá nhân cho các ngành nghề. Điều nầy xung đột mạnh mẽ với tự do cá nhân đến mức nó chỉ được thi hành ở một số không đáng kể trường hợp, và rồi bị huỷ bỏ chỉ một thời gian ngắn sau khi luật có hiệu lực. Việc huỷ bỏ nó báo hiệu một sự chuyển đổi dứt khoát về chính sách kinh tế, đánh dấu bằng việc giảm sự tin tưởng vào các 'kế hoạch" và "chương trình" tập trung, bằng việc bãi bỏ nhiều sự kiểm soát, và bằng việc ngày càng coi trọng thị trường tư nhân. Một sự chuyển đổi chính sách tương tự đã xuất hiện ở hầu hết các quốc gia dân chủ khác.

Sự giải thích đúng nhất về các chuyển đổi chính sách nầy là thành công hạn chế của việc lập kế hoạch tập trung hoặc thất bại rõ ràng của nó trong việc đạt được các mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, thất bại nầy tự nó đã là thuộc tính, ít ra ở mức độ nào đó, đối với nội hàm chính trị của việc lập kế hoạch tập trung và đối với sự miễn cưỡng theo đuổi lý luận của nó vì khi làm như thế cần phải chà đạp tàn nhẫn lên quyền cá nhân cao quý. Có lẽ may khi mà sự chuyển đổi nầy chỉ là một sự gián đoạn tạm thời trong khuynh hướng chủ nghĩa tập thể của thế kỷ nầy. Tuy thế, nó minh hoạ mối quan hệ chặt chẽ giữa tự do chính trị và thể chế kinh tế.

Bằng chứng lịch sử tự nó không bao giờ có thể thuyết phục. Có lẽ chỉ là trùng hợp mà sự mở rộng tự do xuất hiện cùng lúc với sự phát triển các thiết chế tư bản và thị trường. Có chăng sự liên quan? Cái gì là mối liên hệ lôgic giữa tự do kinh tế và tự do chính trị? Khi thảo luận các vấn đề nầy trước hết chúng ta nên xem thị trường như là một phần cấu thành tự do, và tiếp đến xem xét mối quan hệ gián tiếp giữa thể chế thị trường và tự do chính trị. Sản phẩm phụ sẽ là đại cương thể chế kinh tế lý tưởng cho một xã hội tự do.

Là người (theo phái) tự do, chúng ta xem tự do cá nhân, hay có lẽ gia đình, là mục đích tối hậu khi xem xét các thể chế xã hội. Tự do theo nghĩa nầy là giá trị có từ các mối tương tác giữa con người; nó không một chút nghĩa lý gì đối với Robinson Crusoe trên đảo hoang (không có người hầu Man Friday). Robinson Crusoe trên đảo hoang bị hạn chế bởi những "ràng buộc", anh ta có một "quyền lực" hạn chế, và anh ta chỉ có một ít lựa chọn, nhưng không có chuyện tự do theo nghĩa thích hợp với thảo luận của chúng ta. Tương tự, trong một xã hội mà tự do không có gì phải bàn về điều cá nhân thực hiện với tự do của mình; nó không phải là đạo lý bao trùm. Thực ra, một mục đích chính của phái tự do là để vấn đề đạo đức cho cá nhân giải quyết. Các vấn đề đạo đức "thực sự" quan trọng là các vấn đề mà cá nhân đối diện trong một xã hội tự do, anh ta nên làm gì với tự do của mình. Như thế có hai tập hợp giá trị mà một người tự do coi trọng, các giá trị liên quan đến mối quan hệ giữa con người, là hoàn cảnh anh ta xác định ưu tiên trên hết cho tự do; và các giá trị liên quan đến sự thực hiện tự do của mình, là lĩnh vực của đạo đức cá nhân và triết lý

Con người tự do xem con người là một sinh linh hoàn hảo. Anh ta xem vấn đề tổ chức xã hội như là một vấn đề tiêu cực nhằm ngăn cản người "xấu" hành xử sai cũng như làm cho người "tốt" có thể làm điều tốt; và, dĩ nhiên, người "xấu" và "tốt" có thể chỉ là cùng một người, tuỳ vào ai là người phán xét họ.

Vấn đề tổ chức xã hội căn bản là làm thế nào để điều phối các hoạt động kinh tế của số đông con người. Ngay trong các xã hội tương đối lạc hậu, sự phân công lao động và chuyên môn hoá chức năng rộng rãi là cần thiết để sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có. Trong các xã hội tiên tiến, qui mô đòi hỏi sự điều phối để tận dụng các cơ hội do khoa học và công nghệ hiện đại mang lại là cực kỳ to lớn. Đúng là hàng triệu người liên quan đến việc cung cấp bữa ăn hàng ngày cho người khác, chưa nói đến cung cấp xe hơi hàng năm. Thách thức đối với những tín đồ của tự do là hài hoà sự tương thuộc phổ biến nầy với tự do cá nhân.

Về căn bản, chỉ có hai cách điều phối các hoạt động kinh tế của hàng triệu người. Một là chỉ huy tập trung gắn với việc sử dụng các công cụ cưỡng bức của quân đội và của nhà nước toàn trị hiện đại. Cách thứ hai là hợp tác tự nguyện của các cá nhân thông qua công cụ của thị trường.

Khả năng điều phối thông qua hợp tác tự nguyện dựa trên giả định sơ đẳng tuy vẫn thường bị bác bỏ là cả hai bên của một giao dịch kinh tế đều có lợi từ giao dịch đó, với điều kiện là giao dịch nầy là song phương tự nguyện và được thông tin như nhau.

Vì thế sự trao đổi có thể dẫn đến việc điều phối không phải cưỡng bức. Một mô hình xã hội được tổ chức thông qua trao đổi tự nguyện có thể vận hành được là nn kinh tế kinh doanh tư nhân tự do, cái mà chúng ta gọi là chủ nghĩa tư bản cạnh tranh.

Ở hình thức đơn giản nhất của nó, một xã hội như vậy bao gồm một số tập hợp các hộ gia đình độc lập như Robinson Crusoe. Mỗi hộ sử dụng các nguồn lực nó kiểm soát để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ để trao đổi với hàng hoá và dịch vụ do hộ khác sản xuất, trên cơ sở những điều khoản được các bên chấp nhận để để hai bên tiến hành cuộc trao đổi. Theo cách đó nó tạo điều kiện để thoả mãn nhu cầu của nó một cách gián tiếp thông qua sản xuất hàng hoá và dịch vụ, sản xuất tăng lên tạo khả năng cho phân công lao động và chuyên môn hoá chức năng. Vì các hộ luôn có lựa chọn sản xuất trực tiếp cho chính nó, nó không cần phải tham gia trao đổi nào cả trừ khi nó có lợi từ trao đổi đó. Như vậy, không có cuộc trao đổi nào xảy ra nếu hai bên không có lợi từ nó. Bằng cách đó có được sự hợp tác mà không phải cuỡng bức.

Chuyên môn hoá chức năng và phân công lao động sẽ không tiến xa nếu đơn vị sản xuất cơ bản là hộ gia đình. Trong một xã hội hiện đại, chúng ta đi xa hơn nhiều. Chúng ta đã phát minh ra doanh nghiệp là phương tiện trung gian giữa các cá nhân với khả năng như là nhà cung cấp các dịch vụ và người mua hàng hoá. Và tương tự, chuyên môn hoá chức năng và phân công lao động không thể tiến xa nếu chúng ta tiếp tục dựa trên sự trao đổi hàng lấy hàng giản đơn. Vì thế, tiền tệ được phát minh như là phương tiện làm trao đổi thuận tiện, và làm tách biệt các hành vi mua và bán thành hai việc.

Bất chấp vai trò quan trọng của doanh nghiệp và của tiền tệ trong nền kinh tế thực của chúng ta, và bất chấp vô số vấn đề phức tạp mà chúng tạo ra, đặc trưng cốt yếu của công cụ thị trường nhằm đạt được sự điều phối được trình bày đầy đủ trong một nền kinh tế trao đổi đơn giản không có cả doanh nghiệp và tiền tệ. Ở mô hình giản đơn đó, cũng như trong nên kinh tế phức tạp có cả doanh nghiệp và trao đổi dùng tiền tệ, sự hợp tác hoàn toàn mang tính cá nhân và tự nguyện với các điều kiện: (a) các doanh nghiệp là tư nhân, để các bên tham gia hợp đồng rốt cuộc là các cá nhân và (b) các cá nhân thực sự tự do tham gia hay không bất kỳ một trao đổi cụ thể nào, để mọi giao dịch là hoàn toàn tự nguyện.

Nêu những điều kiện nầy một cách chung chung dễ hơn nhiều so với phải đề cập chúng chi tiết, hay chỉ ra chính xác các thiết chế có lợi nhất cho việc duy trì chúng. Thực ra, phần lớn các công trình nghiên cứu kinh tế kỹ thuật đề cập đến chính các vấn đề nầy. Điều kiện căn bản là duy trì luật pháp và trật tự để ngăn ngừa sự cưỡng bức của cá nhân nầy đối với cá nhân khác và để buộc thực thi các hợp đồng tự nguyện tham gia, như thế tạo thực chất cho "tư nhân". Ngoài ra, có lẽ vấn đề khó khăn nhất nảy sinh từ sự độc quyền làm ngăn cản tự do thực sự bằng cách ngăn cản các lựa chọn cá nhân đối với sự trao đổi cụ thể và từ "hiệu ứng láng giềng" tác động lên bên thứ ba vốn không khả thi thu phí hay bồi thường chúng. Các vấn đề nầy sẽ được thảo luận chi tiết hơn ở chương sau.

Khi mà tự do thực sự được duy trì, đặc trưng cốt yếu của tổ chức thị trường các hoạt động kinh tế là nó ngăn ngừa người này quấy rầy các hoạt động của người khác. Người tiêu dùng được bảo vệ không bị người bán ép buộc do sự có mặt của những người bán khác mà anh ta có thể giao dịch. Người bán được bảo vệ không bị người tiêu dùng ép buộc vì anh ta có thể bán cho những người tiêu dùng khác. Nhân viên được bảo vệ không bị người chủ ép buộc vì họ có thể làm cho những người chủ khác, và cứ thế. Và thị trường thực hiện điều nầy không có ai can dự và cũng không quyền lực tập trung.

Thực ra, một nguồn phản đối chủ yếu với kinh tế tự do chính xác là nó thực hiện nhiệm vụ nây quá tốt. Nó cung cấp cho mọi người cái mà họ muốn thay vì một nhóm nào đó nghĩ rằng họ phải muốn. Nằm dưới phần lớn ý kiến chống lại thị trường tự do là sự thiếu niềm tin vào chính sự tự do.

Sự tồn tại của thị trường tự do dĩ nhiên không loại bỏ sự cần có chính quyền. Mà trái lại, chính quyền cần thiết cả như một diễn đàn để quyết định "luật chơi" và cả như một trọng tài để giải thích và buộc thực thi luật lệ đã được qui định. Điều mà thị trường thực hiện là làm giảm rất nhiều phạm vi các vấn đề phải giải quyết thông qua phương tiện chính trị, và do đó tối thiểu hoá mức độ chính quyền cần phải tham gia trực tiếp vào cuộc chơi. Nét đặc trưng của hành động thông qua các kênh chính trị là nó thường yêu cầu hay bắt buộc sự tuân thủ nghiêm ngặt. Mặt khác, ưu thế to lớn của thị trường là nó cho phép tính đa dạng rộng rãi. Theo ngôn từ chính trị, nó là một hệ thống đại diện theo tỉ lệ. Có thể nói, mọi người có thể bỏ phiếu cho màu cà-vạt mà anh ta muốn và có được nó; anh ta không phải xem số đông muốn màu gì và rồi, nếu anh ta thuộc thiểu số, phục tùng.

Chính đây là đặc trưng của thị trường mà chúng tôi đề cập đến khi chúng tôi nói rằng thị trường đưa lại tự do kinh tế. Nhưng đặc trưng nầy cũng có hàm ý vượt xa khỏi ý nghĩa kinh tế hạn hẹp. Tự do chính trị có nghĩa không có sự cưỡng bức của một người đối với công dân của mình. Nguy cơ căn bản đối với tự do là quyền lực cưỡng bức ở trong tay một nhà vua, nhà độc tài, một ông trùm, hay một đa số nhất thời. Việc duy trì tự do đòi hỏi loại bỏ sự tập trung quyền lực như thế ở mức độ có thể thực hiện đầy đủ nhất và phân tán và chia xẻ bất cứ quyền lực nào không thể loại bỏ thông qua một hệ thống kiểm tra và cân bằng. Với việc đưa sự tổ chức các hoạt động kinh tế thoát khỏi sự kiểm soát của quyền lực chính trị, thị trường loại bỏ nguồn quyền lực áp chế nầy. Nó làm cho sức mạnh kinh tế trở thành một sự kiểm tra đối với quyền lực chính trị hơn là củng cố nó.

Quyền lực kinh tế có thể được phân tán rộng. Không có bất cứ luật bảo toàn nào bắt buộc sự tăng trưởng của những trung tâm sức mạnh kinh tế mới được đánh đổi bằng sự hy sinh các trung tâm kinh tế hiện thời. Mặt khác, quyền lực chính trị, khó phân tán hơn. Có thể có vô số chính quyền nhỏ. Nhưng khó hơn nhiều để duy trì vô số trung tâm quyền lực chính trị nhỏ và cân bằng bên trong một chính phủ lớn đơn lẻ so với việc có vô số trung tâm sức mạnh kinh tế trong một nền kinh tế lớn đơn lẻ. Có thể có nhiều triệu phú trong một nền kinh tế lớn. Nhưng liệu có thể có nhiều hơn một người lãnh đạo kiệt xuất, một người mà năng lực và nhiệt tình của tất cả đồng bào của anh ta đều dồn đó? Nếu chính quyền trung ương nắm quyền lực, hầu như sẽ là sự hy sinh quyền lực của các chính quyền địa phương. Dường như tồn tại điều gì đó như là một tổng cố định quyền lực chính trị được phân chia. Do vậy, nếu quyền lực kinh tế gắn với quyền lực chính trị, sẽ không tránh khỏi sự tập trung. Mặt khác, nếu quyền lực kinh tế được tách rời khỏi quyền lực chính trị, nó có thể được dùng như là sự kiểm tra và sự đối lập đối với quyền lực chính trị.

Ý nghĩa của luận cứ trừu tượng nầy có lẽ được minh hoạ tốt nhất bằng ví dụ. Trước tiên, chúng ta hãy xem một ví dụ giả định có thể giúp mang đến các nguyên tắc liên quan, và tiếp đó một vài ví dụ thực tế từ những trải nghiệm gần đây minh hoạ cách thức thị trường vận hành để bảo toàn tự do chính trị.

Một đặc trưng của xã hội tự do chắc chắn là tự do của các cá nhân được cổ vũ và phổ biến công khai thay đổi triệt để trong cấu trúc của xã hội miễn là sự cổ vũ đó được hạn chế ở dạng thuyết phục và không bao gồm sức mạnh hay hình thức ép buộc nào khác. Biểu hiện của tự do chính trị của xã hội tư bản chính là việc mọi người có thể công khai cổ vũ và làm việc cho chủ nghĩa xã hội. Tương tự, tự do chính trị trong xã hội xã hội chủ nghĩa cần để cho mọi người tự do cổ vũ cho sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản. Làm sao mà tự do cổ vũ cho chủ nghĩa tư bản được giữ gìn và bảo vệ trong một xã hội xã hội chủ nghĩa?

Để cho mọi người ủng hộ điều gì, trước hết họ phải có thể kiếm sống. Điều nầy đã làm nảy sinh một vấn đề trong xã hội xã hội chủ nghĩa, vì tất cả việc làm đều do chính quyền kiểm soát trực tiếp. Cần có một hành vi tự khắc chế , hành vi mà khó khăn của nó được nhấn mạnh bằng những trải nghiệm ở Mỹ sau Thế Chiến lần II về vấn đề "an ninh" trong viên chức của Liên bang, để một chính quyền xã hội chủ nghĩa cho phép viên chức của mình ủng hộ các chính sách đối lập trực tiếp với học thuyết chính thống.

Nhưng chúng ta giả sử có được hành vi tự khắc chế nầy. Để sự cổ vũ cho chủ nghĩa tư bản có thực chất, những người đề xướng phải có thể tài trợ cho sự nghiệp của họ để tổ chức hội họp, ấn hành tờ rơi, phát sóng truyền thanh, xuất bản báo chí, tạp chí, và vân vân. Làm thế nào để họ có thể gây quỹ? Có thể và có lẽ có những người trong xã hội xã hội chủ nghĩa có thu nhập cao, thậm chí có thể là một món tiền lớn ở dạng trái phiếu chính phủ hay tương tự, nhưng chắc chắn những người nầy là những viên chức cấp cao. Có thể mường tượng có một viên chức xã hội chủ nghĩa cấp thấp vẫn giữ công việc của mình cho dù công khai ủng hộ chủ nghĩa tư bản. Sẽ là nhẹ dạ nếu nghĩ đến một viên chức xã hội chủ nghĩa cấp cao tài trợ cho những hoạt động "lật đổ" như thế.

Chỗ trông cậy chính để gây quỹ sẽ là vận động những đóng góp nhỏ của số đông các viên chức cấp thấp. Nhưng điều nầy không có một đáp án thực tế. Để thu được các nguồn nầy, nhiều người phải được thuyết phục sẳn, và vấn đề của chúng ta là cách thức khởi động và tài trợ một chiến dịch để làm điều đó. Các phong trào cấp tiến trong các xã hội tư bản chưa bao giờ được tài trợ theo cách như thế nầy. Chúng thường được sự ủng hộ của một số ít cá nhân giàu có, những người đã bị thuyết phục bởi Frederick Vanderbilt Field, hay Anita McCormick Blaine, hay Corliss Lamont, chỉ là một ít trong những cái tên nổi bật gần đây, hay bởi Friedrich Engels, nếu lùi lại xa hơn. Chính vai trò nầy của sự bất bình đẳng tài sản trong việc bảo toàn tự do chính trị hiếm khi được ghi nhận như là vai trò của người bảo trợ.

Trong xã hội tư bản, không chỉ cần thuyết phục số ít người giàu có để gây quỹ cho một tư tưởng nào đó, tuy có vẻ kỳ lạ, có nhiều người như vậy, nhiều tiêu điểm hỗ trợ độc lập. Và, thực ra, thậm chí không cần phải thuyết phục mọi người hay các tổ chức tài chính có sẵn ngân quỹ về tính đúng đắn của các ý tưởng được phổ biến. Chỉ cần thuyết phục họ rằng sự phổ biến đó có thể thành công về mặt tài chính; rằng báo chí hay tạp chí hay sách hay đề án khác sẽ có lãi. Chẳng hạn, nhà xuất bản có tính cạnh tranh không thể tài trợ xuất bản tác phẩm mà chỉ anh ta tán thành với tư cách cá nhân; tiêu chuẩn của anh ta phải là khả năng có một thị trường đủ lớn để có được thu nhập thoả đáng từ đầu tư của mình.

Theo cách nầy, thị trường thị trường phá vỡ cái vòng lẩn quẩn và làm cho nó có thể tài trợ cho những dự án như thế bằng những món tiền nhỏ từ nhiều người mà không cần phải thuyết phục họ. Không thể có khả năng đó trong xã hội xã hội chủ nghĩa; chỉ có nhà nước quyền lực tuyệt đối

Chúng ta hãy thả lỏng trí tưởng tượng của mình và giả sử rằng chính quyền xã hội chủ nghĩa nhận thức được vấn đề nầy và là những người lo lắng bảo toàn tự do. Nó có thể cung cấp quỹ không? Có thể, nhưng thật khó để thấy bằng cách nào. Nó có thể lập nên một văn phòng trợ cấp cho việc tuyên truyền lật đổ. Nhưng làm sao để nó chọn ra người nào để hỗ trợ? Nếu nó cung cấp cho tất cả mọi người yều cầu, nó sẽ nhanh chóng cạn quỹ, đối với chủ nghĩa xã hội không thể bãi bỏ qui luật kinh tế sơ đẳng là một mức giá cao thoả đáng sẽ mời gọi một nguồn cung lớn. Hãy làm cho sự ửng hộ của sự nghiệp cấp tiến có được đền đáp thoả đáng, và nguồn cung cấp sự ủng hộ sẽ vô cùng to lớn.

Hơn nữa, tự do ủng hộ những sự nghiệp không có tính phổ quát không đòi hỏi một sự cổ vũ như thế mà không tốn kém. Ngược lại, không một xã hội nào có thể ổn định nếu sự ủng hộ những thay đổi cấp tiến không tốn một chút gì hay chỉ cần một chút ít tài trợ. Mọi người hy sinh để cổ vũ cho sự nghiệp mà họ tin tưởng sâu sắc là một việc hoàn toàn thích đáng. Thực ra, cần thiết bảo toàn tự do chỉ cho những người sẵn sàng tự khắc chế, đối với những người khác tự do sẽ thoái hoá thành sự phóng túng và vô trách nhiệm. Điều thiết yếu là giá của việc ủng hộ những sự nghiệp không có tính phổ quát có thể chịu đựng được và không quá đắt.

Nhưng, chưa hết. Trong một xã hội thị trường tự do, dễ dàng để có quỹ. Nhà cung cấp giấy sẵn sàng bán giấy cho tờ Daily Worker cũng như cho tờ Wall Street Journal. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, không dễ dàng để có quỹ. Người được giả sử là ủng hộ chủ nghĩa tư bản sẽ phải thuyết phục các nhà máy giấy quốc doanh bán giấy cho anh ta, nhà in quốc doanh in tờ rơi cho anh ta, và bưu điện quốc doanh phân phát tờ rơi cho mọi người, một có quan quốc doanh cho anh ta thuê hội trường để diễn thuyết, và vân vân.

Có thể có một cách nào đó để vượt qua những khó khăn nầy và bảo toàn tự do trong một xã hội xã hội chủ nghĩa. Không thể nói tuyệt đối không được. Tuy thế, rõ ràng là có những khó khăn thực sự trong việc lập nên những thiết chế để bảo toàn thực sự khả năng của những người bất đồng chính kiến. Theo như tôi biết, không một ai từng ủng hộ chủ nghĩa xã hội và cũng ủng hộ tự do đã thực sự đối mặt với vấn đề nầy, hay thậm chí tạo một sự khởi đầu đáng kể nhằm phát triển những thiết chế cho phép tự do trong chủ nghĩa xã hội. Trái lại, quá rõ một xã hội tư bản thị trường tự do cổ vũ tự do như thế nào.

Một ví dụ thực tế nổi bật của các nguyên tắc trừu tượng nầy là trải nghiệm của Winston Churchill. Từ năm 1933 đến khi bùng nổ Thế Chiên II, Churchill không được phép phát biểu trên sóng truyền thanh của Anh, vốn hiển nhiên được chính quyền độc quyền quản lý thông qua Bristish Broading Copration. đây là một công dân hàng đầu của đất nước mình, một thành viên Quốc hội, một cựu bộ trưởng, một người liều lĩnh nổ lực tìm mọi cách có thể để thuyết phục đồng bào mình có biện pháp với mối đe doạ từ nước Đức của Hitler. Ông ấy không được phép phát biểu trên sóng truyền thanh với dân Anh vì BBC là độc quyền của nhà nước và vị trí quan điểm của ông "có vấn đề".

Một ví dụ nổi bật khác, được tường thuật trong số ngày 26 Tháng Giêng năm 1959 của báo Time, liên quan đến vụ "Blacklist Fadeout". Theo Time tường thuật,

Nghi thức trao giải Oscar là đỉnh cao của phẩm giá, nhưng cách đây hai năm phẩm giá bị thách thức. Khi Robert Rich được công bố là tác giả đoạt giải với vở Người Dũng Cảm (The Brave One), ông ta không bao giờ bước ra nhận giải. Robert Rich là bút danh ẩn mình của một trong 150 nhà văn...bị ngành giải trí liệt vào danh sách đen từ năm 1947 là những người bị nghi là Cộng sản hay đi theo cộng sản. Trường hợp nầy đặc biệt gây bối rối vì Viện Hàn Lâm Điện Ảnh đã ngăn cấm bất cứ Người cộng sản hay người bị xem xét theo Tu chính án Thứ Năm tham gia tranh giải. Tuần trước cả qui định Cộng sản và bí mật nhân dạng của Rich bất ngờ được công bố

Hoá ra Rich là Dalton Trumbo (tác giả của John Got His Gun), một trong các tác giả thuộc nhó "Mười tác gia Hollywood" đầu tiên, những người từ chối làm chứng ở các buổi điều trần năm 1947 về Chủ nghĩa Cộng sản trong ngành điện ảnh. Nhà sản xuất Frank King, người đã quả quyết rằng Robert Rich là "một gã trai trẻ có râu ở Tây Ban Nha", nói "Chúng tôi có nghĩa vụ với cổ đông mua kịch bản tốt nhất mà chúng tôi có thể mua. Trumpo mang đến cho chúng tôi Người Dũng Cảm và chúng tôi mua nó"....

Đó gần như là sự kết thúc chính thức danh sách đen của Hollywood. Đối với các nhà văn bị cấm, sự kết thúc không chính thức đã xảy ra từ lâu. Ít nhất 15% số phim hiện thời được cho là do các nhà văn có trong danh sách đen sáng tác. Nhà sản xuất King nói, " Có nhiều ma ở Hollywood hơn ở nghĩa trang Forest Lawn. Mọi công ty ở đó đều sử dụng tác phẩm của những người nằm trong danh sách đen. Chúng ta chỉ là những người đầu tiên xác nhận điều mà mọi người đều biết."

Mọi người, cũng như tôi, có lẽ tin rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ huỷ hoại tất cả tự do của chúng ta, người ta có thể chống đối nó một cách hết sức kiên quyết và mạnh mẽ, và tuy thế, cùng lúc, cũng có thể tin rằng trong một xã hội tự do có thể để cho một người bị ngăn cản lập nên với người khác những thoả thuận tự nguyện hấp dẫn cả hai do anh ta tin vào hay cố gắng cổ vũ chủ nghĩa cộng sản. Tự do của anh ta bao gồm tự do ủng hộ chủ nghĩa cộng sản của anh ấy. Dĩ nhiên, tự do cũng bao gồm tự do của những người khác không giao thiệp với anh ta trong những hoàn cảnh đó. Danh sách đen của Hollywood là một hành vi phi tự do phá hoại tự do vì nó là một sự dàn xếp thông đồng sử dụng những phương tiện ép buộc để ngăn cản trao đổi tự nguyện. Nó đã không vận hành chính xác vì thị trường làm cho nó trở thành tốn kém cho mọi người để bảo vệ danh sách đen. Sự nhấn mạnh có tính thương mại, thực tế mà mọi người đang vận hành các doanh nghiệp có động cơ kiếm tiền càng nhiều càng tốt, bảo vệ tự do của các cá nhân nằm trong danh sách đen bằng cách đưa lại cho họ một hình thức việc làm khác, và bằng cách mang đến cho mọi người động cơ để sử dụng họ.

Nếu Hollywood và ngành điện ảnh có các xí nghiệp quốc doanh và nếu ở Anh việc làm là chuyện của BBC, thật khó để tin rằng "Nhóm Mười Người Hollywood" và những tổ chức tương tự sẽ tìm được việc làm.. Cũng thế, thật khó để tin trong hoàn cảnh đó những người ủng hộ chủ nghĩa cá nhân và doanh nghiệp tư nhân hay những người ủng hộ thực sự mạnh mẽ bất cứ quan điểm nào khác với hiện trạng có thể kiếm được việc làm.

Một ví dụ khác về vai trò của thị trường trong việc bảo toàn tự do chính trị được thấy từ trải nghiệm của chúng ta về chủ nghĩa McCarthy. Hoàn toàn không tính đến những vấn đề thực sự liên quan, và sự xứng đáng của các cáo buộc, các cá nhân đã tiến hành sự bảo vệ nào, và đặc biệt các viên chức chính quyền, chống lại sự buộc tội vô trách nhiệm và phát hiện các vấn đề chống lại lương tâm của họ được nhìn thấy? Sự chống lại Tu chính án Thứ Năm của họ sẽ là sự nhạo báng giả dối không có thay thế đối với làm việc cho chính quyền.

Sự bảo vệ căn bản của họ là sự tồn tại của một nên kinh tế thị trường-tư nhân trong đó họ có thể kiếm sống. Ở đây lần nữa, sự bảo vệ đó là không tuyệt đối. Nhiều ông chủ tư nhân tiềm năng, đúng hoặc sai, không thích thuê các --. có rất ít sự biện minh cho chi phí áp đặt lên nhiều người liên quan hơn là đối với chi phí áp đặt chung chung lên những người ủng hộ các sự nghiệp không mang tính đại chúng. Nhưng điểm quan trọng là chi phí đó được giới hạn và không ngăn trở, giống như trong trường hợp việc làm việc cho chính quyền là khả năng duy nhất.

Cần lưu ý rằng một tỉ lệ lớn không tương xứng mọi người liên quan dường như đi vào các lĩnh vực cạnh tranh nhất của nền kinh tế, doanh nghiệp nhỏ, buôn bán, làm nông, những nơi mà thị trường tiệm cận gần gũi nhất với thị trường tự do lý tưởng. Không một ai mua một cái bánh mì biết được bột mì do người Cộng sản hay người Cộng hoà sản xuất. do người theo chủ nghĩa hợp hiến hay một người Phát-xít, hay, cũng thế, một người da đen hay người da trắng. Điều nầy minh hoạ cách thức một thị trường phi nhân chia tách các hoạt động kinh tế khỏi các quan điểm chính trị và bảo vệ mọi người không bị phân biệt đối xử trong các hoạt động kinh tế của họ vì nnững lý do không thích hợp đối với công việc của bất kể lý do đó liên quan đến quan điểm hay màu da của họ.

Như ví dụ nầy cho thấy, các nhóm trong xã hội của chúng ta có nguy cơ nhất trong việc bảo toàn và củng cố chủ nghĩa tư bản cạnh tranh là những nhóm thiểu số vốn có thể dễ dàng trở thành đối tượng của sự hoài nghi và thù địch của đa số, những người da đen, những người Do thái, những người sinh ở nước ngoài, là vài trường hợp hiển nhiên nhất. Tuy nhiên, cũng khá nghịch lý, kẻ thù của thị trường tự do, những người Xã hội chủ nghĩa và những người Cộng sản đã được tuyển mộ với tỉ lệ không tương xứng từ những nhóm nầy. Thay vì thừa nhận rằng sự tồn tại của thị trường đã bảo vệ họ trước thái độ của công dân nước mình, họ đã sai lầm đổ cho thị trường sự phân biệt còn sót lại.
Chater I
Chương I
The Relation between Economic Freedom and Political Freedom
Mối quan hệ giữa Tự Do Kinh Tế và Tự Do Chính Trị

It is widely believed that politics and economics are separate and largely unconnected; that individual freedom is a political problem and material welfare an economic problem; and that any kind of political arrangements can be combined with any kind of economic arrangements. The chief contemporary manifestation of this idea is the advocacy of "democratic socialism" by many who condemn out of hand the restrictions on individual freedom imposed by "totalitarian socialism" in Russia, and who are persuaded that it is possible for a country to adopt the essential features of Russian economic arrangements and yet to ensure individual freedom through political arrangements. The thesis of this chapter is that such a view is a delusion, that there is an intimate connection between economics and politics, that only certain combinations of political and economic arrangements are possible, and that in particular, a society which is socialist cannot also be democratic, in the sense of guaranteeing individual freedom.

Người ta thường nghĩ rằng chính trị và kinh tế là hai lĩnh vực riêng biệt và hầu như không quan hệ với nhau; rằng tự do cá nhân là vấn đề chính trị và phúc lợi vật chất là vấn đề kinh tế; và rằng bất kỳ thể chế chính trị nào cũng có thể kết hợp với bất kỳ thể chế kinh tế nào. Biểu hiện đương đại chính của tư tưởng nầy là sự ủng hộ "chủ nghĩa xã hội dân chủ" của những người kết án một cách thiếu cân nhắc sự hạn chế tự do cá nhân do chủ nghĩa xã hội toàn trị áp đặt ở Nga, và những người bị thuyết phục rằng một quốc gia có thể áp dụng một số đặc trưng chủ yếu của thể chế kinh tế Nga mà vẫn bảo đảm tự do cá nhân thông qua các thể chế chính trị. Luận đề của chương nầy cho rằng quan điểm đó chỉ là một ảo tưởng, rằng có một mối quan hệ gần gũi giữa kinh tế và chính trị, và rằng chỉ có thể có một số kết hợp nhất định giữa thể chế chính trị và thể chế kinh tế, và đặc biệt rằng, một xã hội xã hội chủ nghĩa không thể đồng thời là một xã hội dân chủ, theo nghĩa bảo đảm tự do cá nhân.


Economic arrangements play a dual role in the promotion of a free society. On the one hand, freedom in economic arrangements is itself a component of freedom broadly understood, so economic freedom is an end in itself. In the second place, economic freedom is also an indispensable means toward the achievement of political freedom.

Thể chế kinh tế đóng một vai trò kép trong việc thúc đẩy một xã hội tự do. Một mặt, tự do trong thể chế kinh tế tự nó là phần cấu thành của tự do được hiểu rộng rãi, vì thế tự do kinh tế là một cứu cánh tự thân. Mặt khác, tự do kinh tế cũng là một phương tiện không thể thiếu nhằm đạt được tự do chính trị.

The first of these roles of economic freedom needs special emphasis because intellectuals in particular have a strong bias against regarding this aspect of freedom as important. They tend to express contempt for what they regard as material aspects of life, and to regard their own pursuit of allegedly higher values as on a different plane of significance and as deserving of special attention. For most citizens of the country, however, if not for the intellectual, the direct importance of economic freedom is at least comparable in significance to the indirect importance of economic freedom as a means to political freedom.

Vai trò trước hết nầy của tự do kinh tế cần đặc biệt nhấn mạnh vì đặc biệt giới trí thức có một sự thiên lệch về tầm quan trọng của khía cạnh nầy của tự do. Họ thường biểu lộ sự khinh rẻ cái mà họ cho là khía cạnh vật chất của đời sống, và xem sự theo đuổi các giá trị được cho là cao cả của riêng họ là ở một tầm quan trọng khác biệt và đáng được quan tâm đặc biệt. Tuy vậy, đối với đa số công dân trong một nước, cứ cho là khác đi đối với trí thức, tầm quan trọng trực tiếp của tự do kinh tế ít nhất có thể so sánh về ý nghĩa với tầm quan trọng gián tiếp của tự do kinh tế như là phương tiện đối với tự do chính trị.

The citizen of Great Britain, who after World War II was not permitted to spend his vacation in the United States because of exchange control, was being deprived of an essential freedom no less than the citizen of the United States, who was denied the opportunity to spend his vacation in Russia because of his political views. The one was ostensibly an economic limitation on freedom and the other a political limitation, yet there is no essential difference between the two.

Công dân của Vương quốc Anh, những người sau Chiến Tranh Thế Giới thứ Hai không được phép đi nghỉ ở Mỹ do sự kiểm soát hối suất, bị tước đoạt sự tự do thiết yếu không kém tí nào so với những công dân Mỹ, những người bị từ chối cơ hội đi nghỉ ở Nga vì quan điểm chính trị. Một bên có vẻ là sự giới hạn kinh tế đối với tự do và bên kia là sự giới hạn chính trị, tuy nhiên không có sự khác biệt quan trọng nào giữa hai bên.

The citizen of the United States who is compelled by law to devote something like 10 per cent of his income to the purchase of a particular kind of retirement contract, administered by the government, is being deprived of a corresponding part of his personal freedom. How strongly this deprivation may be felt and its closeness to the deprivation of religious freedom, which all would regard as "civil" or "political" rather than "economic", were dramatized by an episode involving a group of farmers of the Amish sect. On grounds of principle, this group regarded compulsory federal old age programs as an infringement of their personal individual freedom and refused to pay taxes or accept benefits. As a result, some of their livestock were sold by auction in order to satisfy claims for social security levies. True, the number of citizens who regard compulsory old age insurance as a deprivation of freedom may be few, but the believer in freedom has never counted noses.

Công dân Mỹ, những người bị luật ép buộc dành khoảng 10 phần trăm thu nhập của mình để mua một loại hợp đồng hưu trí đặc biệt do chính phủ quản lý, là đang bị tước đoạt một phần tương ứng tự do cá nhân của họ. Sự tước đoạt này được cảm nhận mạnh đến mức nào và sự gần gũi của nó đối với sự tước đoạt tự do tôn giáo, mà mọi người vốn xem là "dân sự" hay "chính trị" thay vì "kinh tế", đã được kịch hoá trong một hồi liên quan đến một nhóm nông dân của giáo phái Amis. Về nguyên tắc, nhóm này xem các chương trình bắt buộc xưa cũ là sự xâm phạm tự do cá nhân của họ và từ chối đóng thuế hay chấp nhận các lợi ích. Kết quả là, một số gia súc của họ được bán đấu giá để đáp ứng đòi hỏ về thuế an ninh xã hội. Đúng là số công dân xem sự bảo đảm bắt buộc xưa cũ là sự tước đoạt tự do có thể ít, nhưng tín đồ của tự do chưa bao giờ đếm số người.

A citizen of the United States who under the laws of various states is not free to follow the occupation of his own choosing unless he can get a license for it, is likewise being deprived of an essential part of his freedom. So is the man who would like to exchange some of his goods with, say, a Swiss for a watch but is prevented from doing so by a quota. So also is the Californian who was thrown into jail for selling Alka Seltzer at a price below that set by the manufacturer under so-called "fair trade" laws. So also is the farmer who cannot grow the amount of wheat he wants. And so on. Clearly, economic freedom, in and of itself, is an extremely important part of total freedom.

Một công dân Mỹ, chịu chi phối của luật lệ nhiều bang khác nhau không được tự do theo đuổi nghề nghiệp do mình tự chọn nếu không có được giấy phép cho điều đó, cũng đang bị tước đoạt một phần thiết yếu tự do của anh ta. Vì thế, một người muốn trao đổi một số hàng hoá, chẳng hạn, với một người Thuỵ Sỹ để lấy chiếc đồng hồ nhưng bị ngăn cản không cho làm điều đó bởi hạn ngạch Cũng như vậy, một người ở bang California bị ném vào tù vì bán thuốc giảm đau Alka Seltzer với giá thấp hơn giá do những nhà sản xuất xác lập theo cái gọi là luật "tự do thương mại". Cũng như thế là người nông dân không thể trồng số lượng lúa mì mà anh ta muốn. Và cứ thế. Rất rõ, tự do kinh tế, cấu thành và tự thân, là một phần cực kỳ quan trọng của tự do tuyệt đối.

Viewed as a means to the end of political freedom, economic arrangements are important because of their effect on the concentration or dispersion of power. The kind of economic organization that provides economic freedom directly, namely, competitive capitalism, also promotes political freedom because it separates economic power from political power and in this way enables the one to offset the other.

Được xem như là phương tiện của cứu cánh là tự do chính trị, thể chế kinh tế quan trọng vì tác động của nó lên sự tập trung và phân tán quyền lực. Dạng tổ chức kinh tế đưa đến tự do kinh tế trực tiếp, nghĩa là, chủ nghĩa tư bản cạnh tranh, cũng thúc đẩy tự do chính trị vì nó chia tách quyền lực kinh tế với quyền lực chính trị và theo cách đó làm cho cái nầy cân bằng với cái kia.

Historical evidence speaks with a single voice on the relation between political freedom and a free market. I know of no example in time or place of a society that has been marked by a large measure of political freedom, and that has not also used something comparable to a free market to organize the bulk of economic activity.

Bằng chứng lịch sử nêu một cách nhất quán về mối quan hệ giữa tự do chính trị và thị trường tự do, tôi không biết có một xã hội nào từng có, xét về mặt thời gian hay không gian, có được tự do chính trị trong một phạm vi rộng lớn, mà lại không sử dụng một thể chế tương tự thị trường tự do để tổ chức phần lớn các hoạt động kinh tế.

Because we live in a largely free society, we tend to forget how limited is the span of time and the part of the globe for which there has ever been anything like political freedom: the typical state of mankind is tyranny, servitude, and misery. The nineteenth century and early twentieth century in the Western world stand out as striking exceptions to the general trend of historical development. Political freedom in this instance clearly came along with the free market and the development of capitalist institutions. So also did political freedom in the golden age of Greece and in the early days of the Roman era.

Do chúng ta sống trong một xã hội tự do rộng lớn, chúng ta thường quên khoảng thời gian và phần của thế giới từng có tự do chính trị ngắn ngủi và hạn hẹp như thế nào: nhà nước đặc trưng của nhân loại là chuyên chế, nô lệ và nghèo khổ. Thế kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi trong thế giới phương Tây nảy sinh một trường hợp ngoại lệ đối với khuynh hướng phát triển lịch sử chung. Tự do chính trị trong trường hợp nầy rõ rệt đi cùng với thị trường tự do và sự phát triển của thiết chế tư bản. Tự do chính trị trong thời hoàng kim của Hy Lạp và trong những ngày đầu của kỷ nguyên La Mã cũng như vậy.

History suggests only that capitalism is a necessary condition for political freedom. Clearly it is not a sufficient condition. Fascist Italy and Fascist Spain, Germany at various times in the last seventy years, Japan before World Wars I and II, tzarist Russia in the decades before World War I are all societies that cannot conceivably be described as politically free. Yet, in each, private enterprise was the dominant form of economic organization. It is therefore clearly possible to have economic arrangements that are fundamentally capitalist and political arrangements that are not free.

Lịch sử cho thấy duy nhất một điều rằng chủ nghĩa tư bản là điều kiện cần cho tự do chính trị. Rõ ràng nó không phải là điều kiện đủ. Chế độ phát-xít Ý và Tây Ban Nha, Đức ở những thời điểm khác nhau trong bảy mươi năm qua, Nhật trước Chiến Tranh Thế Giới lần I và II, chế độ Sa hoàng Nga trong những thập kỷ trước Chiến Tranh Thế Giới lần I đều là những xã hội không thể chấp nhận được xem là tự do chính trị. Tuy nhiên, trong các xã hội đó, doanh nghiệp tư nhân là dạng tổ chức kinh tế chính. Vì thế, rõ ràng là có thể có xã hội với thể chế kinh tế căn bản là tư bản chủ nghĩa nhưng thể chế chính trị không tự do.

Even in those societies, the citizenry had a good deal more freedom than citizens of a modern totalitarian state like Russia or Nazi Germany, in which economic totalitarianism is combined with political totalitarianism. Even in Russia under the Tzars, it was possible for some citizens, under some circumstances, to change their jobs without getting permission from political authority because capitalism and the existence of private property provided some check to the centralized power of the state.

Ngay trong những xã hội đó, công dân có nhiều tự do hơn công dân trong các xã hội toàn trị hiện đại như Nga hay Đức Quốc Xã, trongcác xã hội nầy chế độ toàn trị kinh tế gắn chặt với chế độ toàn trị chính trị. Ngay ở Nga dưới thời Sa hoàng, vẫn có thể có mộ vài công dân, trong một vài hoàn cảnh, thay đổi việc làm của mình mà không phải xin phép chính quyền vì chủ nghĩa tư bản và sự hiện hữu sở hữu tư nhân đưa lại một vài sự kiểm tra đối với quyền lực tập trung của nhà nước.

The relation between political and economic freedom is complex and by no means unilateral. In the early nineteenth century, Bentham and the Philosophical Radicals were inclined to regard political freedom as a means to economic freedom. They believed that the masses were being hampered by the restrictions that were being imposed upon them, and that if political reform gave the bulk of the people the vote, they would do what was good for them, which was to vote for laissez faire. In retrospect, one cannot say that they were wrong. There was a large measure of political reform that was accompanied by economic reform in the direction of a great deal of laissez faire. An enormous increase in the well-being of the masses followed this change in economic arrangements.

Mối quan hệ giữa tự do chính trị và tự do kinh tế phức tạp và hoàn toàn không đơn phương. Vào đầu thế kỷ mười chín, Bentham và nhóm Philosophical Radicals (Những Người Cấp Tiến Triết Học) có khuynh hướng cho rằng tự do chính trị là phương tiện của tự do kinh tế. Họ tin rằng quần chúng bị những hạn chế áp đặt lên họ cản trở, và rằng nếu tự do chính trị đưa cho số đông quần chúng quyền bầu cử, họ sẽ làm những gì tốt cho họ, đó là bỏ phiếu cho hệ thống tự do kinh doanh. Nhìn lại, người ta không thể cho rằng họ sai. Có một số lượng lớn các cuộc cải tổ chính trị gắn với cải tổ kinh tế theo chiều hướng tự do kinh doanh. Sự thay đổi thể chế kinh tế nầy mang lại một sự gia tăng khổng lồ về phúc lợi của quần chúng.

The triumph of Benthamite liberalism in nineteenth-century England was followed by a reaction toward increasing intervention by government in economic affairs. This tendency to collectivism was greatly accelerated, both in England and elsewhere, by the two World Wars. Welfare rather than freedom be came the dominant note in democratic countries. Recognizing the implicit threat to individualism, the intellectual descendants of the Philosophical Radicals Dicey, Mises, Hayek, and Simons, to mention only a few feared that a continued movement toward centralized control of economic activity would prove The Road to Serfdom, as Hayek entitled his penetrating analysis of the process. Their emphasis was on economic freedom as a means toward political freedom.

Chiến thắng của chủ nghĩa tự do trường phái Bentham trong thế kỷ mười chín ở Anh lại bị tiếp nối bằng một sự phản ứng theo hướng tăng thêm sự can thiệp của chính quyền trong các hoạt động kinh tế. Khuynh hướng thiên về chủ nghĩa tập thể nầy gia tăng mạnh mẽ, cả ở Anh và ở những nơi khác, do hai cuộc thế chiến. Phúc lợi thay vì tự do trở thành khẩu hiệu thống trị trong các quốc gia dân chủ. Nhận biết nguy cơ tiềm ẩn nầy đối với chủ nghĩa cá nhân, những hậu sinh của nhóm Philosophical Radicals, chỉ điểm một vầi người như Dicey, Mises, Hayek, và Simmons lo ngại rằng một ễu hướng tiếp diễn về hướng kiểm soát tập trung các hoạt động kinh tế sẽ chứng tỏ "Đường Về Nô Lệ" như Hayek đặt tên cuốn sách phân tích sâu sắc quá trình nầy của ông ta. Nhấn mạnh của họ là tự do kinh tế là phương tiện đi đến tự do chính trị.

Events since the end of World War II display still a different relation between economic and political freedom. Collectivist economic planning has indeed interfered with individual freedom. At least in some countries, however, the result has not been the suppression of freedom, but the reversal of economic policy. England again provides the most striking example. The turning point was perhaps the ''control of engagements" order which, despite great misgivings, the Labour party found it necessary to impose in order to carry out its economic policy. Fully enforced and carried through, the law would have involved centralized allocation of individuals to occupations. This conflicted so sharply with personal liberty that it was enforced in a negligible number of cases, and then repealed after the law had been in effect for only a short period. Its repeal ushered in a decided shift in economic policy, marked by reduced reliance on centralized "plans" and "programs", by the dismantling of many controls, and by increased emphasis on the private market. A similar shift in policy occurred in most other democratic countries.

Những sự kiện từ sau khi kết thúc Chiến Tranh Thế Giới lần II còn cho thấy một mối quan hệ khác biệt giữa tự do kinh tế và tự do chính trị. Việc lập kế hoạch kinh tế tập thể thực tế đã xâm phạm tự do cá nhân. Tuy vậy, ít ra ở một số nước, kết quả không phải là sự đàn áp tự do, mà là sự đảo ngược chính sách kinh tế. Nước Anh một lần nữa là ví dụ nổi bật nhất. Điểm ngoặt có lẽ là luật "kiểm soát việc làm", mà bất chấp nhiều lo ngại, Công đảng thấy cần thiết áp đặt để tiến hành chính sách kinh tế của nó. Được hoàn toàn thông qua và thực thi, luật đó liên quan đến sự phân bổ tập trung các cá nhân cho các ngành nghề. Điều nầy xung đột mạnh mẽ với tự do cá nhân đến mức nó chỉ được thi hành ở một số không đáng kể trường hợp, và rồi bị huỷ bỏ chỉ một thời gian ngắn sau khi luật có hiệu lực. Việc huỷ bỏ nó báo hiệu một sự chuyển đổi dứt khoát về chính sách kinh tế, đánh dấu bằng việc giảm sự tin tưởng vào các 'kế hoạch" và "chương trình" tập trung, bằng việc bãi bỏ nhiều sự kiểm soát, và bằng việc ngày càng coi trọng thị trường tư nhân. Một sự chuyển đổi chính sách tương tự đã xuất hiện ở hầu hết các quốc gia dân chủ khác.

The proximate explanation of these shifts in policy is the limited success of central planning or its outright failure to achieve stated objectives. However, this failure is itself to be attributed, at least in some measure, to the political implications of central planning and to an unwillingness to follow out its logic when doing so requires trampling rough-shod on treasured private rights. It may well be that the shift is only a temporary interruption in the collectivist trend of this century. Even so, it illustrates the close relation between political freedom and economic arrangements.
Sự giải thích đúng nhất về các chuyển đổi chính sách nầy là thành công hạn chế của việc lập kế hoạch tập trung hoặc thất bại rõ ràng của nó trong việc đạt được các mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, thất bại nầy tự nó đã là thuộc tính, ít ra ở mức độ nào đó, đối với nội hàm chính trị của việc lập kế hoạch tập trung và đối với sự miễn cưỡng theo đuổi lý luận của nó vì khi làm như thế cần phải chà đạp tàn nhẫn lên quyền cá nhân cao quý. Có lẽ may khi mà sự chuyển đổi nầy chỉ là một sự gián đoạn tạm thời trong khuynh hướng chủ nghĩa tập thể của thế kỷ nầy. Tuy thế, nó minh hoạ mối quan hệ chặt chẽ giữa tự do chính trị và thể chế kinh tế.

Historical evidence by itself can never be convincing. Perhaps it was sheer coincidence that the expansion of freedom occurred at the same time as the development of capitalist and market institutions. Why should there be a connection? What are the logical links between economic and political freedom? In discussing these questions we shall consider first the market as a direct component of freedom, and then the indirect relation between market arrangements and political freedom. A by-product will be an outline of the ideal economic arrangements for a free society.

Bằng chứng lịch sử tự nó không bao giờ có thể thuyết phục. Có lẽ chỉ là trùng hợp mà sự mở rộng tự do xuất hiện cùng lúc với sự phát triển các thiết chế tư bản và thị trường. Có chăng sự liên quan? Cái gì là mối liên hệ lôgic giữa tự do kinh tế và tự do chính trị? Khi thảo luận các vấn đề nầy trước hết chúng ta nên xem thị trường như là một phần cấu thành tự do, và tiếp đến xem xét mối quan hệ gián tiếp giữa thể chế thị trường và tự do chính trị. Sản phẩm phụ sẽ là đại cương thể chế kinh tế lý tưởng cho một xã hội tự do.

As liberals, we take freedom of the individual, or perhaps the family, as our ultimate goal in judging social arrangements. Freedom as a value in this sense has to do with the interrelations among people; it has no meaning whatsoever to a Robinson Crusoe on an isolated island (without his Man Friday). Robinson Crusoe on his island is subject to "constraint," he has limited "power," and he has only a limited number of alternatives, but there is no problem of freedom in the sense that is relevant to our discussion. Similarly, in a society freedom has nothing to say about what an individual does with his freedom; it is not an all-embracing ethic. Indeed, a major aim of the liberal is to leave the ethical problem for the individual to wrestle with. The "really" important ethical problems are those that face an individual in a free societywhat he should do with his freedom. There are thus two sets of values that a liberal will emphasizethe values that are relevant to relations among people, which is the context in which he assigns first priority to freedom; and the values that are relevant to the individual in the exercise of his freedom, which is the realm of individual ethics and philosophy.

Là người (theo phái) tự do, chúng ta xem tự do cá nhân, hay có lẽ gia đình, là mục đích tối hậu khi xem xét các thể chế xã hội. Tự do theo nghĩa nầy là giá trị có từ các mối tương tác giữa con người; nó không một chút nghĩa lý gì đối với Robinson Crusoe trên đảo hoang (không có người hầu Man Friday). Robinson Crusoe trên đảo hoang bị hạn chế bởi những "ràng buộc", anh ta có một "quyền lực" hạn chế, và anh ta chỉ có một ít lựa chọn, nhưng không có chuyện tự do theo nghĩa thích hợp với thảo luận của chúng ta. Tương tự, trong một xã hội mà tự do không có gì phải bàn về điều cá nhân thực hiện với tự do của mình; nó không phải là đạo lý bao trùm. Thực ra, một mục đích chính của phái tự do là để vấn đề đạo đức cho cá nhân giải quyết. Các vấn đề đạo đức "thực sự" quan trọng là các vấn đề mà cá nhân đối diện trong một xã hội tự do, anh ta nên làm gì với tự do của mình. Như thế có hai tập hợp giá trị mà một người tự do coi trọng, các giá trị liên quan đến mối quan hệ giữa con người, là hoàn cảnh anh ta xác định ưu tiên trên hết cho tự do; và các giá trị liên quan đến sự thực hiện tự do của mình, là lĩnh vực của đạo đức cá nhân và triết lý

The liberal conceives of men as imperfect beings. He regards the problem of social organization to be as much a negative problem of preventing "bad" people from doing harm as of enabling "good" people to do good; and, of course, "bad" and "good" people may be the same people, depending on who is judging them.

Con người tự do xem con người là một sinh linh hoàn hảo. Anh ta xem vấn đề tổ chức xã hội như là một vấn đề tiêu cực nhằm ngăn cản người "xấu" hành xử sai cũng như làm cho người "tốt" có thể làm điều tốt; và, dĩ nhiên, người "xấu" và "tốt" có thể chỉ là cùng một người, tuỳ vào ai là người phán xét họ.


The basic problem of social organization is how to co-ordinate the economic activities of large numbers of people. Even in relatively backward societies, extensive division of labor and specialization of function is required to make effective use of available resources. In advanced societies, the scale on which co ordination is needed, to take full advantage of the opportunities offered by modern science and technology, is enormously greater. Literally millions of people are involved in providing one another with their daily bread, let alone with their yearly automobiles. The challenge to the believer in liberty is to reconcile this widespread interdependence with individual freedom.

Vấn đề tổ chức xã hội căn bản là làm thế nào để điều phối các hoạt động kinh tế của số đông con người. Ngay trong các xã hội tương đối lạc hậu, sự phân công lao động và chuyên môn hoá chức năng rộng rãi là cần thiết để sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có. Trong các xã hội tiên tiến, qui mô đòi hỏi sự điều phối để tận dụng các cơ hội do khoa học và công nghệ hiện đại mang lại là cực kỳ to lớn. Đúng là hàng triệu người liên quan đến việc cung cấp bữa ăn hàng ngày cho người khác, chưa nói đến cung cấp xe hơi hàng năm. Thách thức đối với những tín đồ của tự do là hài hoà sự tương thuộc phổ biến nầy với tự do cá nhân.

Fundamentally, there are only two ways of co-ordinating the economic activities of millions. One is central direction involving the use of coercionthe technique of the army and of the modern totalitarian state. The other is voluntary co-operation of individualsthe technique of the market place.

The possibility of co-ordination through voluntary co-operation rests on the elementaryyet frequently deniedproposition that both parties to an economic transaction benefit from it, provided the transaction is bi-laterally voluntary and informed.

Exchange can therefore bring about co-ordination without coercion. A working model of a society organized through voluntary exchange is a free private enterprise exchange economywhat we have been calling competitive capitalism.

Về căn bản, chỉ có hai cách điều phối các hoạt động kinh tế của hàng triệu người. Một là chỉ huy tập trung gắn với việc sử dụng các công cụ cưỡng bức của quân đội và của nhà nước toàn trị hiện đại. Cách thứ hai là hợp tác tự nguyện của các cá nhân thông qua công cụ của thị trường.

Khả năng điều phối thông qua hợp tác tự nguyện dựa trên giả định sơ đẳng tuy vẫn thường bị bác bỏ là cả hai bên của một giao dịch kinh tế đều có lợi từ giao dịch đó, với điều kiện là giao dịch nầy là song phương tự nguyện và được thông tin như nhau.

Vì thế sự trao đổi có thể dẫn đến việc điều phối không phải cưỡng bức. Một mô hình xã hội được tổ chức thông qua trao đổi tự nguyện có thể vận hành được là n
n kinh tế kinh doanh tư nhân tự do, cái mà chúng ta gọi là chủ nghĩa tư bản cạnh tranh.


In its simplest form, such a society consists of a number of independent householdsa collection of Robinson Crusoes, as it were. Each household uses the resources it controls to produce goods and services that it exchanges for goods and services produced by other households, on terms mutually acceptable to the two parties to the bargain. It is thereby enabled to satisfy its wants indirectly by producing goods and services for others, rather than directly by producing goods for its own immediate use. The incentive for adopting this indirect route is, of course, the increased product made possible by division of labor and specialization of function. Since the household always has the alternative of producing directly for itself, it need not enter into any exchange unless it benefits from it. Hence, no exchange will take place unless both parties do benefit from it. Co-operation is thereby achieved without coercion.

Ở hình thức đơn giản nhất của nó, một xã hội như vậy bao gồm một số tập hợp các hộ gia đình độc lập như Robinson Crusoe. Mỗi hộ sử dụng các nguồn lực nó kiểm soát để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ để trao đổi với hàng hoá và dịch vụ do hộ khác sản xuất, trên cơ sở những điều khoản được các bên chấp nhận để để hai bên tiến hành cuộc trao đổi. Theo cách đó nó tạo điều kiện để thoả mãn nhu cầu của nó một cách gián tiếp thông qua sản xuất hàng hoá và dịch vụ, sản xuất tăng lên tạo khả năng cho phân công lao động và chuyên môn hoá chức năng. Vì các hộ luôn có lựa chọn sản xuất trực tiếp cho chính nó, nó không cần phải tham gia trao đổi nào cả trừ khi nó có lợi từ trao đổi đó. Như vậy, không có cuộc trao đổi nào xảy ra nếu hai bên không có lợi từ nó. Bằng cách đó có được sự hợp tác mà không phải cuỡng bức.

Specialization of function and division of labor would not go far if the ultimate productive unit were the household. In a modern society, we have gone much farther. We have introduced enterprises which are intermediaries between individuals in their capacities as suppliers of service and as purchasers of goods. And similarly, specialization of function and division of labor could not go very far if we had to continue to rely on the barter of product for product. In consequence, money has been introduced as a means of facilitating exchange, and of enabling the acts of purchase and of sale to be separated into two parts.

Chuyên môn hoá chức năng và phân công lao động sẽ không tiến xa nếu đơn vị sản xuất cơ bản là hộ gia đình. Trong một xã hội hiện đại, chúng ta đi xa hơn nhiều. Chúng ta đã phát minh ra doanh nghiệp là phương tiện trung gian giữa các cá nhân với khả năng như là nhà cung cấp các dịch vụ và người mua hàng hoá. Và tương tự, chuyên môn hoá chức năng và phân công lao động không thể tiến xa nếu chúng ta tiếp tục dựa trên sự trao đổi hàng lấy hàng giản đơn. Vì thế, tiền tệ được phát minh như là phương tiện làm trao đổi thuận tiện, và làm tách biệt các hành vi mua và bán thành hai việc.

Despite the important role of enterprises and of money in our actual economy, and despite the numerous and complex problems they raise, the central characteristic of the market technique of achieving co-ordination is fully displayed in the simple exchange economy that contains neither enterprises nor money. As in that simple model, so in the complex enterprise and money-exchange economy, co-operation is strictly individual and voluntary provided: (a) that enterprises are private, so that the ultimate contracting parties are individuals and (b) that individuals arc effectively free to enter or not to enter into any particular exchange, so that every transaction is strictly voluntary.

Bất chấp vai trò quan trọng của doanh nghiệp và của tiền tệ trong nền kinh tế thực của chúng ta, và bất chấp vô số vấn đề phức tạp mà chúng tạo ra, đặc trưng cốt yếu của công cụ thị trường nhằm đạt được sự điều phối được trình bày đầy đủ trong một nền kinh tế trao đổi đơn giản không có cả doanh nghiệp và tiền tệ. Ở mô hình giản đơn đó, cũng như trong nên kinh tế phức tạp có cả doanh nghiệp và trao đổi dùng tiền tệ, sự hợp tác hoàn toàn mang tính cá nhân và tự nguyện với các điều kiện: (a) các doanh nghiệp là tư nhân, để các bên tham gia hợp đồng rốt cuộc là các cá nhân và (b) các cá nhân thực sự tự do tham gia hay không bất kỳ một trao đổi cụ thể nào, để mọi giao dịch là hoàn toàn tự nguyện.

It is far easier to state these provisos in general terms than to spell them out in detail, or to specify precisely the institutional arrangements most conducive to their maintenance. Indeed, much of technical economic literature is concerned with precisely these questions. The basic requisite is the maintenance of law and order to prevent physical coercion of one individual by another and to enforce contracts voluntarily entered into, thus giving substance to "private". Aside from this, perhaps the most difficult problems arise from monopolywhich inhibits effective freedom by denying individuals alternatives to the particular exchangeand from "neighborhood effects"effects on third parties for which it is not feasible to charge or recompense them. These problems will be discussed in more detail in the following chapter.


Nêu những điều kiện nầy một cách chung chung dễ hơn nhiều so với phải đề cập chúng chi tiết, hay chỉ ra chính xác các thiết chế có lợi nhất cho việc duy trì chúng. Thực ra, phần lớn các công trình nghiên cứu kinh tế kỹ thuật đề cập đến chính các vấn đề nầy. Điều kiện căn bản là duy trì luật pháp và trật tự để ngăn ngừa sự cưỡng bức của cá nhân nầy đối với cá nhân khác và để buộc thực thi các hợp đồng tự nguyện tham gia, như thế tạo thực chất cho "tư nhân". Ngoài ra, có lẽ vấn đề khó khăn nhất nảy sinh từ sự độc quyền làm ngăn cản tự do thực sự bằng cách ngăn cản các lựa chọn cá nhân đối với sự trao đổi cụ thể và từ "hiệu ứng láng giềng" tác động lên bên thứ ba vốn không khả thi thu phí hay bồi thường chúng. Các vấn đề nầy sẽ được thảo luận chi tiết hơn ở chương sau.

So long as effective freedom of exchange is maintained, the central feature of the market organization of economic activity is that it prevents one person from interfering with another in respect of most of his activities. The consumer is protected from coercion by the seller because of the presence of other sellers with whom he can deal. The seller is protected from coercion by the consumer because of other consumers to whom he can sell. The employee is protected from coercion by the employer because of
other employers for whom he can work, and so on. And the market does this impersonally and without centralized authority.

Indeed, a major source of objection to a free economy is precisely that it does this task so well. It gives people what they want instead of what a particular group thinks they ought to want. Underlying most arguments against the free market is a lack of belief in freedom itself.

Khi mà tự do thực sự được duy trì, đặc trưng cốt yếu của tổ chức thị trường các hoạt động kinh tế là nó ngăn ngừa người này quấy rầy các hoạt động của người khác. Người tiêu dùng được bảo vệ không bị người bán ép buộc do sự có mặt của những người bán khác mà anh ta có thể giao dịch. Người bán được bảo vệ không bị người tiêu dùng ép buộc vì anh ta có thể bán cho những người tiêu dùng khác. Nhân viên được bảo vệ không bị người chủ ép buộc vì họ có thể làm cho những người chủ khác, và cứ thế. Và thị trường thực hiện điều nầy không có ai can dự và cũng không quyền lực tập trung.

Thực ra, một nguồn phản đối chủ yếu với kinh tế tự do chính xác là nó thực hiện nhiệm vụ nây quá tốt. Nó cung cấp cho mọi người cái mà họ muốn thay vì một nhóm nào đó nghĩ rằng họ phải muốn. Nằm dưới phần lớn ý kiến chống lại thị trường tự do là sự thiếu niềm tin vào chính sự tự do.



The existence of a free market does not of course eliminate the need for government. On the contrary, government is essential both as a forum for determining the "rules of the game" and as an umpire to interpret and enforce the rules decided on. What the market does is to reduce greatly the range of issues that must be decided through political means, and thereby to minimize the extent to which government need participate directly in the game. The characteristic feature of action through political channels is that it tends to require or enforce substantial conformity. The great advantage of the market, on the other hand, is that it permits wide diversity. It is, in political terms, a system of proportional representation. Each man can vote, as it were, for the color of tie he wants and get it; he does not have to see what color the majority wants and then, if he is in the minority, submit.

Sự tồn tại của thị trường tự do dĩ nhiên không loại bỏ sự cần có chính quyền. Mà trái lại, chính quyền cần thiết cả như một diễn đàn để quyết định "luật chơi" và cả như một trọng tài để giải thích và buộc thực thi luật lệ đã được qui định. Điều mà thị trường thực hiện là làm giảm rất nhiều phạm vi các vấn đề phải giải quyết thông qua phương tiện chính trị, và do đó tối thiểu hoá mức độ chính quyền cần phải tham gia trực tiếp vào cuộc chơi. Nét đặc trưng của hành động thông qua các kênh chính trị là nó thường yêu cầu hay bắt buộc sự tuân thủ nghiêm ngặt. Mặt khác, ưu thế to lớn của thị trường là nó cho phép tính đa dạng rộng rãi. Theo ngôn từ chính trị, nó là một hệ thống đại diện theo tỉ lệ. Có thể nói, mọi người có thể bỏ phiếu cho màu cà-vạt mà anh ta muốn và có được nó; anh ta không phải xem số đông muốn màu gì và rồi, nếu anh ta thuộc thiểu số, phục tùng.

It is this feature of the market that we refer to when we say that the market provides economic freedom. But this characteristic also has implications that go far beyond the narrowly economic. Political freedom means the absence of coercion of a man by his fellow men. The fundamental threat to freedom is power to coerce, be it in the hands of a monarch, a dictator, an oligarchy, or a momentary majority. The preservation of freedom requires the elimination of such concentration of power to the fullest possible extent and the dispersal and distribution of whatever power cannot be eliminateda system of checks and balances. By removing the organization of economic activity from the control of political authority, the market eliminates this source of coercive power. It enables economic strength to be a check to political power rather than a reinforcement.

Chính đây là đặc trưng của thị trường mà chúng tôi đề cập đến khi chúng tôi nói rằng thị trường đưa lại tự do kinh tế. Nhưng đặc trưng nầy cũng có hàm ý vượt xa khỏi ý nghĩa kinh tế hạn hẹp. Tự do chính trị có nghĩa không có sự cưỡng bức của một người đối với công dân của mình. Nguy cơ căn bản đối với tự do là quyền lực cưỡng bức ở trong tay một nhà vua, nhà độc tài, một ông trùm, hay một đa số nhất thời. Việc duy trì tự do đòi hỏi loại bỏ sự tập trung quyền lực như thế ở mức độ có thể thực hiện đầy đủ nhất và phân tán và chia xẻ bất cứ quyền lực nào không thể loại bỏ thông qua một hệ thống kiểm tra và cân bằng. Với việc đưa sự tổ chức các hoạt động kinh tế thoát khỏi sự kiểm soát của quyền lực chính trị, thị trường loại bỏ nguồn quyền lực áp chế nầy. Nó làm cho sức mạnh kinh tế trở thành một sự kiểm tra đối với quyền lực chính trị hơn là củng cố nó.

Economic power can be widely dispersed. There is no law of conservation which forces the growth of new centers of eco nomic strength to be at the expense of existing centers. Political power, on the other hand, is more difficult to decentralize. There can be numerous small independent governments. But it is far more difficult to maintain numerous equipotent small centers of political power in a single large government than it is to have numerous centers of economic strength in a single large economy. There can be many millionaires in one large economy. But can there be more than one really outstanding leader, one person on whom the energies and enthusiasms of his countrymen are centered? If the central government gains power, it is likely to be at the expense of local governments. There seems to be something like a fixed total of political power to be distributed. Consequently, if economic power is joined to political power, concentration seems almost inevitable. On the other hand, if economic power is kept in separate hands from political power, it can serve as a check and a counter to political power.


Quyền lực kinh tế có thể được phân tán rộng. Không có bất cứ luật bảo toàn nào bắt buộc sự tăng trưởng của những trung tâm sức mạnh kinh tế mới được đánh đổi bằng sự hy sinh các trung tâm kinh tế hiện thời. Mặt khác, quyền lực chính trị, khó phân tán hơn. Có thể có vô số chính quyền nhỏ. Nhưng khó hơn nhiều để duy trì vô số trung tâm quyền lực chính trị nhỏ và cân bằng bên trong một chính phủ lớn đơn lẻ so với việc có vô số trung tâm sức mạnh kinh tế trong một nền kinh tế lớn đơn lẻ. Có thể có nhiều triệu phú trong một nền kinh tế lớn. Nhưng liệu có thể có nhiều hơn một người lãnh đạo kiệt xuất, một người mà năng lực và nhiệt tình của tất cả đồng bào của anh ta đều dồn đó? Nếu chính quyền trung ương nắm quyền lực, hầu như sẽ là sự hy sinh quyền lực của các chính quyền địa phương. Dường như tồn tại điều gì đó như là một tổng cố định quyền lực chính trị được phân chia. Do vậy, nếu quyền lực kinh tế gắn với quyền lực chính trị, sẽ không tránh khỏi sự tập trung. Mặt khác, nếu quyền lực kinh tế được tách rời khỏi quyền lực chính trị, nó có thể được dùng như là sự kiểm tra và sự đối lập đối với quyền lực chính trị.

The force of this abstract argument can perhaps best be demonstrated by example. Let us consider first, a hypothetical example that may help to bring out the principles involved, and then some actual examples from recent experience that illustrate the way in which the market works to preserve political freedom.

One feature of a free society is surely the freedom of individuals to advocate and propagandize openly for a radical change in the structure of the societyso long as the advocacy is restricted to persuasion and does not include force or other forms of coercion. It is a mark of the political freedom of a capitalist society that men can openly advocate and work for socialism. Equally, political freedom in a socialist society would require that men be free to advocate the introduction of capitalism. How could the freedom to advocate capitalism be preserved and protected in a socialist society?
Ý nghĩa của luận cứ trừu tượng nầy có lẽ được minh hoạ tốt nhất bằng ví dụ. Trước tiên, chúng ta hãy xem một ví dụ giả định có thể giúp mang đến các nguyên tắc liên quan, và tiếp đó một vài ví dụ thực tế từ những trải nghiệm gần đây minh hoạ cách thức thị trường vận hành để bảo toàn tự do chính trị.

Một đặc trưng của xã hội tự do chắc chắn là tự do của các cá nhân được cổ vũ và phổ biến công khai thay đổi triệt để trong cấu trúc của xã hội miễn là sự cổ vũ đó được hạn chế ở dạng thuyết phục và không bao gồm sức mạnh hay hình thức ép buộc nào khác. Biểu hiện của tự do chính trị của xã hội tư bản chính là việc mọi người có thể công khai cổ vũ và làm việc cho chủ nghĩa xã hội. Tương tự, tự do chính trị trong xã hội xã hội chủ nghĩa cần để cho mọi người tự do cổ vũ cho sự xuất hiện của chủ nghĩa tư bản. Làm sao mà tự do cổ vũ cho chủ nghĩa tư bản được giữ gìn và bảo vệ trong một xã hội xã hội chủ nghĩa?


In order for men to advocate anything, they must in the first place be able to earn a living. This already raises a problem in a socialist society, since all jobs are under the direct control of political authorities. It would take an act of self-denial whose difficulty is underlined by experience in the United States after World War II with the problem of "security" among Federal employees, for a socialist government to permit its employees to advocate policies directly contrary to official doctrine.

But let us suppose this act of self-denial to be achieved. For advocacy of capitalism to mean anything, the proponents must be able to finance their causeto hold public meetings, publish pamphlets, buy radio time, issue newspapers and magazines, and so on. How could they raise the funds? There might and probably would be men in the socialist society with large incomes, perhaps even large capital sums in the form of government bonds and the like, but these would of necessity be high public officials. It is possible to conceive of a minor socialist official retaining his job although openly advocating capitalism. It strains credulity to imagine the socialist top brass financing such "subversive" activities.

Để cho mọi người ủng hộ điều gì, trước hết họ phải có thể kiếm sống. Điều nầy đã làm nảy sinh một vấn đề trong xã hội xã hội chủ nghĩa, vì tất cả việc làm đều do chính quyền kiểm soát trực tiếp. Cần có một hành vi tự khắc chế , hành vi mà khó khăn của nó được nhấn mạnh bằng những trải nghiệm ở Mỹ sau Thế Chiến lần II về vấn đề "an ninh" trong viên chức của Liên bang, để một chính quyền xã hội chủ nghĩa cho phép viên chức của mình ủng hộ các chính sách đối lập trực tiếp với học thuyết chính thống.

Nhưng chúng ta giả sử có được hành vi tự khắc chế nầy. Để sự cổ vũ cho chủ nghĩa tư bản có thực chất, những người đề xướng phải có thể tài trợ cho sự nghiệp của họ để tổ chức hội họp, ấn hành tờ rơi, phát sóng truyền thanh, xuất bản báo chí, tạp chí, và vân vân. Làm thế nào để họ có thể gây quỹ? Có thể và có lẽ có những người trong xã hội xã hội chủ nghĩa có thu nhập cao, thậm chí có thể là một món tiền lớn ở dạng trái phiếu chính phủ hay tương tự, nhưng chắc chắn những người nầy là những viên chức cấp cao. Có thể mường tượng có một viên chức xã hội chủ nghĩa cấp thấp vẫn giữ công việc của mình cho dù công khai ủng hộ chủ nghĩa tư bản. Sẽ là nhẹ dạ nếu nghĩ đến một viên chức xã hội chủ nghĩa cấp cao tài trợ cho những hoạt động "lật đổ" như thế.



The only recourse for funds would be to raise small amounts from a large number of minor officials. But this is no real answer. To tap these sources, many people would already have to be persuaded, and our whole problem is how to initiate and finance a campaign to do so. Radical movements in capitalist societies have never been financed this way. They have typically been supported by a few wealthy individuals who have become persuadedby a Frederick Vanderbilt Field, or an Anita McCormick Blaine, or a Corliss Lamont, to mention a few names recently prominent, or by a Friedrich Engels, to go farther back. This is a role of inequality of wealth in preserving political freedom that is seldom notedthe role of the patron.

Chỗ trông cậy chính để gây quỹ sẽ là vận động những đóng góp nhỏ của số đông các viên chức cấp thấp. Nhưng điều nầy không có một đáp án thực tế. Để thu được các nguồn nầy, nhiều người phải được thuyết phục sẳn, và vấn đề của chúng ta là cách thức khởi động và tài trợ một chiến dịch để làm điều đó. Các phong trào cấp tiến trong các xã hội tư bản chưa bao giờ được tài trợ theo cách như thế nầy. Chúng thường được sự ủng hộ của một số ít cá nhân giàu có, những người đã bị thuyết phục bởi Frederick Vanderbilt Field, hay Anita McCormick Blaine, hay Corliss Lamont, chỉ là một ít trong những cái tên nổi bật gần đây, hay bởi Friedrich Engels, nếu lùi lại xa hơn. Chính vai trò nầy của sự bất bình đẳng tài sản trong việc bảo toàn tự do chính trị hiếm khi được ghi nhận như là vai trò của người bảo trợ.

In a capitalist society, it is only necessary to convince a few wealthy people to get funds to launch any idea, however strange, and there are many such persons, many independent foci of support. And, indeed, it is not even necessary to persuade people or financial institutions with available funds of the soundness of the ideas to be propagated. It is only necessary to persuade them that the propagation can be financially successful; that the newspaper or magazine or book or other venture will be profitable. The competitive publisher, for example, cannot afford to publish only writing with which he personally agrees; his touchstone must be the likelihood that the market will be large enough to yield a satisfactory return on his investment.
In this way, the market breaks the vicious circle and makes it possible ultimately to finance such ventures by small amounts from many people without first persuading them. There are no such possibilities in the socialist society; there is only the all-powerful state.

Trong xã hội tư bản, không chỉ cần thuyết phục số ít người giàu có để gây quỹ cho một tư tưởng nào đó, tuy có vẻ kỳ lạ, có nhiều người như vậy, nhiều tiêu điểm hỗ trợ độc lập. Và, thực ra, thậm chí không cần phải thuyết phục mọi người hay các tổ chức tài chính có sẵn ngân quỹ về tính đúng đắn của các ý tưởng được phổ biến. Chỉ cần thuyết phục họ rằng sự phổ biến đó có thể thành công về mặt tài chính; rằng báo chí hay tạp chí hay sách hay đề án khác sẽ có lãi. Chẳng hạn, nhà xuất bản có tính cạnh tranh không thể tài trợ xuất bản tác phẩm mà chỉ anh ta tán thành với tư cách cá nhân; tiêu chuẩn của anh ta phải là khả năng có một thị trường đủ lớn để có được thu nhập thoả đáng từ đầu tư của mình.

Theo cách nầy, thị trường thị trường phá vỡ cái vòng lẩn quẩn và làm cho nó có thể tài trợ cho những dự án như thế bằng những món tiền nhỏ từ nhiều người mà không cần phải thuyết phục họ. Không thể có khả năng đó trong xã hội xã hội chủ nghĩa; chỉ có nhà nước quyền lực tuyệt đối


Let us stretch our imagination and suppose that a socialist government is aware of this problem and is composed of people anxious to preserve freedom. Could it provide the funds? Perhaps, but it is difficult to see how. It could establish a bureau for subsidizing subversive propaganda. But how could it choose whom to support? If it gave to all who asked, it would shortly find itself out of funds, for socialism cannot repeal the elementary economic law that a sufficiently high price will call forth a large supply. Make the advocacy of radical causes sufficiently remunerative, and the supply of advocates will be unlimited.

Moreover, freedom to advocate unpopular causes does not require that such advocacy be without cost. On the contrary, no society could be stable if advocacy of radical change were costless, much less subsidized. It is entirely appropriate that men make sacrifices to advocate causes in which they deeply believe. Indeed, it is important to preserve freedom only for people who are willing to practice self-denial, for otherwise freedom degenerates into license and irresponsibility. What is essential is that the cost of advocating unpopular causes be tolerable and not prohibitive.

Chúng ta hãy thả lỏng trí tưởng tượng của mình và giả sử rằng chính quyền xã hội chủ nghĩa nhận thức được vấn đề nầy và là những người lo lắng bảo toàn tự do. Nó có thể cung cấp quỹ không? Có thể, nhưng thật khó để thấy bằng cách nào. Nó có thể lập nên một văn phòng trợ cấp cho việc tuyên truyền lật đổ. Nhưng làm sao để nó chọn ra người nào để hỗ trợ? Nếu nó cung cấp cho tất cả mọi người yều cầu, nó sẽ nhanh chóng cạn quỹ, đối với chủ nghĩa xã hội không thể bãi bỏ qui luật kinh tế sơ đẳng là một mức giá cao thoả đáng sẽ mời gọi một nguồn cung lớn. Hãy làm cho sự ửng hộ của sự nghiệp cấp tiến có được đền đáp thoả đáng, và nguồn cung cấp sự ủng hộ sẽ vô cùng to lớn.


Hơn nữa, tự do ủng hộ những sự nghiệp không có tính đại chúng không đòi hỏi một sự cổ vũ như thế mà không tốn kém. Ngược lại, không một xã hội nào có thể ổn định nếu sự ủng hộ những thay đổi cấp tiến không tốn một chút gì hay chỉ cần một chút ít tài trợ. Mọi người hy sinh để cổ vũ cho sự nghiệp mà họ tin tưởng sâu sắc là một việc hoàn toàn thích đáng. Thực ra, cần thiết bảo toàn tự do chỉ cho những người sẵn sàng tự khắc chế, đối với những người khác tự do sẽ thoái hoá thành sự phóng túng và vô trách nhiệm. Điều thiết yếu là giá của việc ủng hộ những sự nghiệp không có tính đại chúng có thể chịu đựng được và không quá đắt.


But we are not yet through. In a free market society, it is enough to have the funds. The suppliers of paper are as willing to sell it to the Daily Worker as to the Wall Street Journal. In a socialist society, it would not be enough to have the funds. The hypothetical supporter of capitalism would have to persuade a government factory making paper to sell to him, the government printing press to print his pamphlets, a government post office to distribute them among the people, a government agency to rent him a hall in which to talk, and so on.

Perhaps there is some way in which one could overcome these difficulties and preserve freedom in a socialist society. One cannot say it is utterly impossible. What is clear, however, is that there are very real difficulties in establishing institutions that
will effectively preserve the possibility of dissent. So far as I know, none of the people who have been in favor of socialism and also in favor of freedom have really faced up to this issue, or made even a respectable start at developing the institutional arrangements that would permit freedom under socialism. By contrast, it is clear how a free market capitalist society fosters freedom.

Nhưng, chưa hết. Trong một xã hội thị trường tự do, dễ dàng để có quỹ. Nhà cung cấp giấy sẵn sàng bán giấy cho tờ Daily Worker cũng như cho tờ Wall Street Journal. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, không dễ dàng để có quỹ. Người được giả sử là ủng hộ chủ nghĩa tư bản sẽ phải thuyết phục các nhà máy giấy quốc doanh bán giấy cho anh ta, nhà in quốc doanh in tờ rơi cho anh ta, và bưu điện quốc doanh phân phát tờ rơi cho mọi người, một có quan quốc doanh cho anh ta thuê hội trường để diễn thuyết, và vân vân.

Có thể có một cách nào đó để vượt qua những khó khăn nầy và bảo toàn tự do trong một xã hội xã hội chủ nghĩa. Không thể nói tuyệt đối không được. Tuy thế, rõ ràng là có những khó khăn thực sự trong việc lập nên những thiết chế để bảo toàn thực sự khả năng của những người bất đồng chính kiến. Theo như tôi biết, không một ai từng ủng hộ chủ nghĩa xã hội và cũng ủng hộ tự do đã thực sự đối mặt với vấn đề nầy, hay thậm chí tạo một sự khởi đầu đáng kể nhằm phát triển những thiết chế cho phép tự do trong chủ nghĩa xã hội. Trái lại, quá rõ một xã hội tư bản thị trường tự do cổ vũ tự do như thế nào.

A striking practical example of these abstract principles is the experience of Winston Churchill. From 1933 to the outbreak of World War II, Churchill was not permitted to talk over the British radio, which was, of course, a government monopoly administered by the British Broadcasting Corporation. Here was a leading citizen of his country, a Member of Parliament, a former cabinet minister, a man who was desperately trying by every device possible to persuade his countrymen to take steps to ward off the menace of Hitler's Germany. He was not permitted to talk over the radio to the British people because the BBC was a government monopoly and his position was too "controversial".

Một ví dụ thực tế nổi bật của các nguyên tắc trừu tượng nầy là trải nghiệm của Winston Churchill. Từ năm 1933 đến khi bùng nổ Thế Chiên II, Churchill không được phép phát biểu trên sóng truyền thanh của Anh, vốn hiển nhiên được chính quyền độc quyền quản lý thông qua Bristish Broading Copration. đây là một công dân hàng đầu của đất nước mình, một thành viên Quốc hội, một cựu bộ trưởng, một người liều lĩnh nổ lực tìm mọi cách có thể để thuyết phục đồng bào mình có biện pháp với mối đe doạ từ nước Đức của Hitler. Ông ấy không được phép phát biểu trên sóng truyền thanh với dân Anh vì BBC là độc quyền của nhà nước và vị trí quan điểm của ông "có vấn đề".

Another striking example, reported in the January 26, 1959 issue of Time, has to do with the "Blacklist Fadeout". Says the Time story,

The Oscar-awarding ritual is Hollywood's biggest pitch for dignity, but two years ago dignity suffered. When one Robert Rich was announced as top writer for the The Brave One, he never stepped forward. Robert Rich was a pseudonym, masking one of about 150 writers . . . blacklisted by the industry since 1947 as suspected Communists or fellow travelers. The case was particularly embarrassing because the Motion Picture Academy had barred any Communist or Fifth Amendment pleader from Oscar competition. Last week both the Communist rule and the mystery of Rich's identity were suddenly rescripted.

Một ví dụ nổi bật khác, được tường thuật trong số ngày 26 Tháng Giêng năm 1959 của báo Time, liên quan đến vụ "Blacklist Fadeout". Theo Time tường thuật,

Nghi thức trao giải Oscar là đỉnh cao của phẩm giá, nhưng cách đây hai năm phẩm giá bị thách thức. Khi Robert Rich được công bố là tác giả đoạt giải với vở Người Dũng Cảm (The Brave One), ông ta không bao giờ bước ra nhận giải. Robert Rich là bút danh ẩn mình của một trong 150 nhà văn...bị ngành giải trí liệt vào danh sách đen từ năm 1947 là những người bị nghi là Cộng sản hay đi theo cộng sản. Trường hợp nầy đặc biệt gây bối rối vì Viện Hàn Lâm Điện Ảnh đã ngăn cấm bất cứ Người cộng sản hay người bị xem xét theo Tu chính án Thứ Năm tham gia tranh giải. Tuần trước cả qui định Cộng sản và bí mật nhân dạng của Rich bất ngờ được công bố


Rich turned out to be Dalton (Johnny Got His Gun) Trumbo, one of the original "Hollywood Ten" writers who refused to testify at the 1947 hearings on Communism in the movie industry. Said producer Frank King, who had stoutly insisted that Robert Rich was "a young guy in Spain with a beard": "We have an obligation to our stockholders to buy the best script we can. Trumbo brought us The Brave One and we bought it". . . .

In effect it was the formal end of the Hollywood black list. For barred writers, the informal end came long ago. At least 15% of cur rent Hollywood films are reportedly written by blacklist members. Said Producer King, "There are more ghosts in Hollywood than in Forest Lawn. Every company in town has used the work of blacklisted people. We're just the first to confirm what everybody knows."

Hoá ra Rich là Dalton Trumbo (tác giả của John Got His Gun), một trong các tác giả thuộc nhó "Mười tác gia Hollywood" đầu tiên, những người từ chối làm chứng ở các buổi điều trần năm 1947 về Chủ nghĩa Cộng sản trong ngành điện ảnh. Nhà sản xuất Frank King, người đã quả quyết rằng Robert Rich là "một gã trai trẻ có râu ở Tây Ban Nha", nói "Chúng tôi có nghĩa vụ với cổ đông mua kịch bản tốt nhất mà chúng tôi có thể mua. Trumpo mang đến cho chúng tôi Người Dũng Cảm và chúng tôi mua nó"....

Đó gần như là sự kết thúc chính thức danh sách đen của Hollywood. Đối với các nhà văn bị cấm, sự kết thúc không chính thức đã xảy ra từ lâu. Ít nhất 15% số phim hiện thời được cho là do các nhà văn có trong danh sách đen sáng tác. Nhà sản xuất King nói, " Có nhiều ma ở Hollywood hơn ở nghĩa trang Forest Lawn. Mọi công ty ở đó đều sử dụng tác phẩm của những người nằm trong danh sách đen. Chúng ta chỉ là những người đầu tiên xác nhận điều mà mọi người đều biết."

One may believe, as I do, that communism would destroy all of our freedoms, one may be opposed to it as firmly and as strongly as possible, and yet, at the same time, also believe that in a free society it is intolerable for a man to be prevented from making voluntary arrangements with others that are mutually attractive because he believes in or is trying to promote communism. His freedom includes his freedom to promote communism. Freedom also, of course, includes the freedom of others not to deal with him under those circumstances. The Hollywood blacklist was an unfree act that destroys freedom because it was a collusive arrangement that used coercive means to prevent voluntary exchanges. It didn't work precisely because the market made it costly for people to preserve the blacklist. The commercial emphasis, the fact that people who are running enterprises have an incentive to make as much money as they can, protected the freedom of the individuals who were blacklisted by providing them with an alternative form of employment, and by giving people an incentive to employ them.

Mọi người, cũng như tôi, có lẽ tin rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ huỷ hoại tất cả tự do của chúng ta, người ta có thể chống đối nó một cách hết sức kiên quyết và mạnh mẽ, và tuy thế, cùng lúc, cũng có thể tin rằng trong một xã hội tự do có thể để cho một người bị ngăn cản lập nên với người khác những thoả thuận tự nguyện hấp dẫn cả hai do anh ta tin vào hay cố gắng cổ vũ chủ nghĩa cộng sản. Tự do của anh ta bao gồm tự do ủng hộ chủ nghĩa cộng sản của anh ấy. Dĩ nhiên, tự do cũng bao gồm tự do của những người khác không giao thiệp với anh ta trong những hoàn cảnh đó. Danh sách đen của Hollywood là một hành vi phi tự do phá hoại tự do vì nó là một sự dàn xếp thông đồng sử dụng những phương tiện ép buộc để ngăn cản trao đổi tự nguyện. Nó đã không vận hành chính xác vì thị trường làm cho nó trở thành tốn kém cho mọi người để bảo vệ danh sách đen. Sự nhấn mạnh có tính thương mại, thực tế mà mọi người đang vận hành các doanh nghiệp có động cơ kiếm tiền càng nhiều càng tốt, bảo vệ tự do của các cá nhân nằm trong danh sách đen bằng cách đưa lại cho họ một hình thức việc làm khác, và bằng cách mang đến cho mọi người động cơ để sử dụng họ.

If Hollywood and the movie industry had been government enterprises or if in England it had been a question of employment by the British Broadcasting Corporation it is difficult to believe that the "Hollywood Ten" or their equivalent would have found employment. Equally, it is difficult to believe that under those circumstances, strong proponents of individualism and private enterpriseor indeed strong proponents of any view other than the status quowould be able to get employment.

Another example of the role of the market in preserving political freedom, was revealed in our experience with McCarthyism. Entirely aside from the substantive issues involved, and the merits of the charges made, what protection did individuals, and in particular government employees, have against irresponsible accusations and probings into matters that it went against their conscience to reveal? Their appeal to the Fifth Amendment would have been a hollow mockery without an alternative to government employment.

Nếu Hollywood và ngành điện ảnh có các xí nghiệp quốc doanh và nếu ở Anh việc làm là chuyện của BBC, thật khó để tin rằng "Nhóm Mười Người Hollywood" và những tổ chức tương tự sẽ tìm được việc làm.. Cũng thế, thật khó để tin trong hoàn cảnh đó những người ủng hộ chủ nghĩa cá nhân và doanh nghiệp tư nhân hay những người ủng hộ thực sự mạnh mẽ bất cứ quan điểm nào khác với hiện trạng có thể kiếm được việc làm.

Một ví dụ khác về vai trò của thị trường trong việc bảo toàn tự do chính trị được thấy từ trải nghiệm của chúng ta về chủ nghĩa McCarthy. Hoàn toàn không tính đến những vấn đề thực sự liên quan, và sự xứng đáng của các cáo buộc, các cá nhân đã tiến hành sự bảo vệ nào, và đặc biệt các viên chức chính quyền, chống lại sự buộc tội vô trách nhiệm và phát hiện các vấn đề chống lại lương tâm của họ được nhìn thấy? Sự chống lại Tu chính án Thứ Năm của họ sẽ là sự nhạo báng giả dối không có thay thế đối với làm việc cho chính quyền.


Their fundamental protection was the existence of a private-market economy in which they could earn a living. Here again, the protection was not absolute. Many potential private employers were, rightly or wrongly, averse to hiring those pilloried. It may well be that there was far less justification for the costs imposed on many of the people involved than for the costs generally imposed on people who advocate unpopular causes. But the important point is that the costs were limited and not prohibitive, as they would have been if government employment had been the only possibility.

Sự bảo vệ căn bản của họ là sự tồn tại của một nên kinh tế thị trường-tư nhân trong đó họ có thể kiếm sống. Ở đây lần nữa, sự bảo vệ đó là không tuyệt đối. Nhiều ông chủ tư nhân tiềm năng, đúng hoặc sai, không thích thuê các --. có rất ít sự biện minh cho chi phí áp đặt lên nhiều người liên quan hơn là đối với chi phí áp đặt chung chung lên những người ủng hộ các sự nghiệp không mang tính đại chúng. Nhưng điểm quan trọng là chi phí đó được giới hạn và không ngăn trở, giống như trong trường hợp việc làm việc cho chính quyền là khả năng duy nhất.

It is of interest to note that a disproportionately large fraction of the people involved apparently went into the most competitive sectors of the economysmall business, trade, farmingwhere the market approaches most closely the ideal free market. No one who buys bread knows whether the wheat from which it is made was grown by a Communist or a Republican, by a constitutionalist or a Fascist, or, for that matter, by a Negro or a white. This illustrates how an impersonal market separates economic activities from political views and protects men from being discriminated against in their economic activities for reasons that are irrelevant to their productivitywhether these reasons are associated with their views or their color.
Cần lưu ý rằng một tỉ lệ lớn không tương xứng mọi người liên quan dường như đi vào các lĩnh vực cạnh tranh nhất của nền kinh tế, doanh nghiệp nhỏ, buôn bán, làm nông, những nơi mà thị trường tiệm cận gần gũi nhất với thị trường tự do lý tưởng. Không một ai mua một cái bánh mì biết được bột mì do người Cộng sản hay người Cộng hoà sản xuất. do người theo chủ nghĩa hợp hiến hay một người Phát-xít, hay, cũng thế, một người da đen hay người da trắng. Điều nầy minh hoạ cách thức một thị trường phi nhân chia tách các hoạt động kinh tế khỏi các quan điểm chính trị và bảo vệ mọi người không bị phân biệt đối xử trong các hoạt động kinh tế của họ vì nnững lý do không thích hợp đối với công việc của bất kể lý do đó liên quan đến quan điểm hay màu da của họ.

As this example suggests, the groups in our society that have the most at stake in the preservation and strengthening of competitive capitalism are those minority groups which can most easily become the object of the distrust and enmity of the majoritythe Negroes, the Jews, the foreign-born, to mention only the most obvious. Yet, paradoxically enough, the enemies of the free marketthe Socialists and Communistshave been recruited in disproportionate measure from these groups. Instead of recognizing that the existence of the market has protected them from the attitudes of their fellow countrymen, they mistakenly attribute the residual discrimination to the market.

Như ví dụ nầy cho thấy, các nhóm trong xã hội của chúng ta có nguy cơ nhất trong việc bảo toàn và củng cố chủ nghĩa tư bản cạnh tranh là những nhóm thiểu số vốn có thể dễ dàng trở thành đối tượng của sự hoài nghi và thù địch của đa số, những người da đen, những người Do thái, những người sinh ở nước ngoài, là vài trường hợp hiển nhiên nhất. Tuy nhiên, cũng khá nghịch lý, kẻ thù của thị trường tự do, những người Xã hội chủ nghĩa và những người Cộng sản đã được tuyển mộ với tỉ lệ không tương xứng từ những nhóm nầy. Thay vì thừa nhận rằng sự tồn tại của thị trường đã bảo vệ họ trước thái độ của công dân nước mình, họ đã sai lầm đổ cho thị trường sự phân biệt còn lại.